Đăng bởi Để lại phản hồi

Độ nhạy và các nhân tố rủi ro

Độ nhạy là tỷ số giữa sự thay đổi của một biến với sự thay đổi của những thông số cơ sở ngẫu nhiên. Điều này khiến cho độ nhạy là một thước đo rủi ro rất tiện lợi vì chúng liên hệ một biến với nguồn gốc của sự bất trắc ảnh hưởng tới biến đó. Nguồn gốc này có thể là tài sản cơ sở đối với phái sinh hay các tham số thị trường. Chúng được gọi là “nhân tố rủi ro”.


Công thức khai triển Taylor được giới thiệu ở chương 12, khi giới thiệu bổ đề Ito cho một hàm số với hai biến. Với một biến, công thức đơn giản hóa thành. Sự thay đổi nhỏ của X được viết là Ax. Công thức trên có nghĩa là, với những biến tất định, một sự thay đổi nhỏ của biến dẫn tới sự thay đổi của hàm có thật được xấp xỉ bằng số hạng bậc một của Ax. Một phép xấp xỉ chính xác hơn sẽ sử dụng cả số hạng bậc hai.

Đạo hàm thứ nhất áp dụng cho Ax là độ nhạy, số hạng bậc hai là sự thay đổi của độ nhạy khi Ax không thể bỏ qua. Đạo hàm bậc hai là đạo hàm bậc một của độ nhạy. Chuỗi Taylor chỉ rõ sự thay đổi giá trị công cụ là một hàm số của những đạo hàm bậc một, hai, ba… Với những thay đổi lớn, nên tính cả những số hạng tiếp theo cao hơn bậc một. Trong tất cả các trường họp, sử dụng các số hạng bậc cao hơn bậc một tạo ra xấp xỉ tốt hơn vì nó bao gồm những mối quan hệ phi tuyên tính giữa giá trị và nhân tố rủi ro.

các nhân tố rủi ro

Khi những số hạng bậc hai có thể bỏ qua, công cụ được gọi là “tuyến tính” vì sự thay đổi giá trị của nó phụ thuộc tuyên tính vào các nhân tố rủi ro. Quyền chọn là những công cụ phi tuyên tính vì đoạn “gẫy” trong thu nhập khi tài sản cơ sở có giá trị bằng giá thực hiện. Giá trị quyền chọn có những thay đổi “nhẵn” hơn thu nhập vì giá trị thời gian của quyền chọn, nhưng delta sẽ thay đổi đáng kể với giá trị cơ sở.

Công thức trên có thể được mở rộng với mọi số lượng biến. Ví dụ, nêu ta có hai biến, công thức sẽ mở rộng và nhìn có vẻ phức tạp hơn, nhưng những thay đổi bậc một luôn là những đạo hàm bậc một. Công thức chung với hai biến rất nổi tiếng vì nó là xuất phát điểm cho bổ đề Ito. Trong trường hợp hai biến, hàm số là f(x,y) và khi dịch chuyển X, y một chút từ vị trí ban đầu (JC0 ,y0), thay đổi của hàm số cũng được xấp xỉ bỏi khai triển Taylor. Bây giờ, đạo hàm là các đạo hàm riêng theo một trong hai biến. Hàm số và đạo hàm riêng được tính ớ giá trị ban đầu (x0, y0 ) và Ax = X — x0, Ay = y — y0.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Trường hợp trái phiếu lãi suất thả nổi

Giá trị của một trái phiếu thả nổi tạo ra doanh thu tính theo lãi suất bằng vái tỷ lệ chiết khấu sẽ không dựa vào những lãi suất hiện hành. Điều này hiển nhiên trong trường hợp một kỳ, bởi vì tài sản tạo ra ì+r vào cuối kỳ và dòng tiền chiết khấu với tỷ lệ r có giá trị hiện tại là (l+r)/(l+r)=l. Tính chất này ứng với những trái phiêu thả nổi nhiều kỳ bởi vì một trái phiếu như vậy có thể được sao chép bằng một chuỗi những trái phiếu một kỳ.

Vào mỗi thời điểm, trái phiếu một kỳ được thanh toán và doanh thu được dùng để đầu tư vào một trái phiếu khác. Vào cuối mỗi kỳ, chúng ta đi vay cho một kỳ mói với doanh thu từ lãi suất của kỳ trước. Vì vào đầu mỗi kỳ, giá trị của khoản nợ thả nổi là mệnh giá tất .cả những cồ phiếu một kỳ có giá trị bằng mệnh giá. Giá trị của cổ phiếu thả nổi hôm náy cũng là giá trị mệnh giá.

trái phiếu

Thời gian liên tục
Khi gộp liên tục thay vì gộp rời rạc, những công thức cơ bản cho giá trị tương lai và hiện tại rất đơn giản với rc là tỷ lệ chiết khấu liên tục và khung thời gian T:
B(t,T)-exp[-r(T-t]
Giá trị tương lai của dòng tiền hôm nay được tính là hàm mũ của r(T-t) hay exp[r(T-t)].
exp[-r(fc)*]
Chú ý tỷ lệ r có thể thay đổi theo thời gian
Giá trị tài sản và thu nhập thị trường yêu cầu
Bời vì giá trị tài sản là giá trị chiết khấu của tất cả những dòng tiền tương lai ở lãi suất thị trường, có một mối quan hệ ngược giữa giá trị trái phiếu lãi suất cố định và lãi suất. Bằng cách thay đổi tất cả các lãi suất cùng một lượng, ta thấy thừa số chiết khấu 1/(14- r + Ar)* giảm, khiến cho giá trị thấp hơn (hình 11.2). Ngoại lệ duy nhất là trái phiếu với lãi suất thả nổi vì nó có giá trị cố định.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Độ nhạy và kiểm soát rủi ro

Kiểm soát rủi ro có nghĩa là kiểm soát độ nhạy với rủi ro bằng cách có những vị thế bù trừ cho những nhân tố rủi ro. Kích thước của vị thế phòng hộ tùy vào độ nhạy tương đối của công cụ được phòng hộ và công cụ phòng hộ, như trong trường hợp phòng hộ đoản vị của một quyền chọn. Phòng hộ delta có nghĩa là bù trừ giá trị quyền chọn với một vị thế trên công cụ. Đây là một hệ quả trực tiếp của việc tạo ra danh mục đầu tư không rủi ro vì mục đích đánh giá quyền chọn. Bởi vì quyền chọn có những độ nhạy khác nhau ngoài delta, chúng không được bảo hộ ví dụ như vega. Những vị thế phòng hộ phải tính toán đến tất cả những độ nhạy, đặc biệt là delta, gamma và vega đối với quyền chọn.

kiểm soát rủi ro

Khi những công cụ phòng hộ không phụ thuộc vào đúng những nhân tố với công cụ được phòng hộ, sẽ có rủi ro cơ bản, nghĩa là hai vị thế không bù trừ nhau hoàn toàn. Trong kế toán phòng hộ, phòng hộ được công nhận dựa trên độ hiệu quả. Độ hiệu quả được tính bằng khả năng bù trừ cho những thay đổi giá trị của công cụ được phòng hộ, bao gồm bù trừ bao nhiêu, bao lâu và tương quan giữa nhân tố rủi ro của hai công cụ.
Danh mục đầu tư của các công cụ có thể nhạy với hàng trăm loại rủi ro khác nhau: lãi suất, tỷ giá, cổ phiếu… Quản lý rủi ro đòi hỏi tính toán độ nhạy với tất cả những nhân tố đó, trong khi những công cụ đơn lẻ chỉ nhạy với một số nhân tố rủi ro.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Trái phiếu thành tố không thể thiếu trong danh mục đầu tư

Từ khi chính phủ bắt đầu phát hành trái phiếu thường xuyên vào đầu thế kỷ 20 và đưa nó phát triển lên thị trường trái phiếu hiện đại, nhà đầu tư đã mua trái phiếu với nhiều lý do khác nhau: bảo toàn vốn, thu nhập, đa dạng hóa và phòng ngừa rủi ro đối với sự suy yếu của nền kinh tế hoặc giảm phát. Khi thị trường trái phiếu dần mở rộng và đa dạng hơn vào những thập niên 70, 80, các trái phiếu dần trải qua những biến động thường xuyên và lớn hơn về giá và nhiều nhà đầu tư bắt đầu kinh doanh trái phiếu, nắm bắt lợi ích tiềm ẩn: giá hoặc vốn, thặng dư. Giờ đây, các nhà đầu tư có thể chọn mua trái phiếu vì tất cả những lý do này.

Bảo toàn vốn: Khác với cổ phiếu, trái phiếu hoàn trả vốn gốc vào một ngày xác định hay còn gọi là ngày đáo hạn. Điều này làm cho trái phiếu thu hút những nhà đầu tư không muốn có rủi ro trên phần vốn gốc và những nhà đầu tư cần thực hiện nghĩa vụ nợ vào một thời điểm xác định trong tương lai. Các trái phiếu có thêm lợi ích là lãi suất chào bán xác định thường cao hơn lãi suất tiết kiệm ngắn hạn.

Thu nhập: Đa số trái phiếu mang lại cho nhà đầu tư thu nhập cố định. Căn cứ vào lịch xác định, có thể là hàng quý, nửa năm hoặc hàng năm, nhà phát hành chuyển trả lãi cho trái chủ và có thể được dùng để tái đầu tư vào những trái phiếu khác. Cổ phiếu cũng có thể tạo ra thu nhập từ các khoản cổ tức nhưng thường ít hơn so với trái tức và các doanh nghiệp có toàn quyền quyết định việc chi trả cổ tức trong khi trái chủ phải có trách nhiệm chi trả trái tức.

Thặng dư vốn: Giá trái phiếu có thể tăng vì rất nhiều nguyên do, gồm cả việc giảm lãi suất và việc cải thiện xếp hạn tín nhiệm của nhà phát hành. Nếu một trái phiếu được nắm giữ đến khi đáo hạn và lợi nhuận từ tăng giá trái phiếu trong dòng đời của trái phiếu không được hiện thực hóa thì giá trái phiếu đó sẽ dần lùi về bằng mệnh giá (100) vì nó tiến gần đến ngày đáo hạn và kỳ thanh toán vốn gốc. Tuy nhiên, nhà đầu tư có thể ghi nhận lợi nhuận từ giá trái phiếu tăng bằng cách bán trái phiếu sau khi giá trái phiếu tăng trước ngày đáo hạn hay còn gọi là thặng dư vốn. Ghi nhận thặng dư vốn trên trái phiếu làm gia tăng tổng lợi nhuận, bao gồm thu nhập và thặng dư vốn. Đầu tư vì tổng lợi nhuận đã trở thành chiến lược đối với trái phiếu được sử dụng rộng rãi trong suốt 40 năm qua. (Tham khảo thêm tại: “Chiến lược đầu tư trái phiếu”.)

Đa dạng hóa: Kết hợp các trái phiếu trong một danh mục đầu tư có thể giúp đa dạng hóa danh mục. Nhiều nhà đầu tư đa dạng hóa giữa các loại tài sản từ cổ phiếu và trái phiếu đến hàng hóa và các loại hình đầu tư khác với nổ lực mang rủi ro về mức thấp hoặc thậm chí là mức âm đối với danh mục của họ.

Phòng ngừa đối với sự trì trệ của nền kinh tế hoặc giảm phát: Các trái phiếu có thể giúp bảo vệ nhà đầu tư khỏi sự trì trệ của nền kinh tế vì nhiều lý do. Giá của một trái phiếu tùy thuộc vào việc nhà đầu tư định giá thu nhập mà trái phiếu mang lại. Phần lớn trái phiếu chi trả thu nhập cố định và không thay đổi. Khi giá của hàng hóa và dịch vụ tăng, điều kiện kinh tế được xem là lạm phát, một trái phiếu có thu nhập cố định trở nên kém hấp dẫn vì khoản thu nhập đó mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn. Lạm phát thường song hành với tăng trưởng kinh tế nhanh vốn làm gia tăng nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ. Trái lại, tăng trưởng kinh tế chậm thường dẫn đến lạm phát thấp làm cho thu nhập từ trái phiếu trở nên hấp dẫn. Sự chậm chạp của nền kinh tế là tín hiệu không tốt đối với lợi nhuận của doanh nghiệp và thu nhập chứng khoán làm gia tăng sức hấp dẫn của lợi nhuận từ thu nhập trái phiếu.

Nếu sự chậm chạp của nền kinh tế ảnh hưởng đến việc khách hàng thôi mua sắm và giá cả trong nền kinh tế bắt đầu giảm, điều kiện kinh tế khó khăn hay còn được xem là giảm phát, thì thu nhập từ trái phiếu trở nên hấp dẫn hơn vì trái chủ có thể mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn (do giá cả giảm) đối với cùng một khoản thu nhập. Nhu cầu đối với trái phiếu tăng và do đó giá trái phiếu và lợi nhuận của trái chủ cũng tăng.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Lịch sử hình thành và phát triển chỉ báo NKT Oscillator (New Key Trade).

Từ ngày thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn nằm trong các giáo trình, sách tham khảo tại thư viện của các trường đại học thì đã có một sinh viên lặng lẽ, âm thầm thuộc lòng những cuốn sách kinh điển về thị trường chứng khoán của các học giả, nhà đầu tư huyền thoại trên thế giới.

Sự cuốn hút, đam mê những con số ẩn sau thị trường chứng khoán đã chiếm hết thời gian 4 năm học đại học, không yêu đương, không sinh nhật, không cảm xúc trước sự thay đổi thời tiết. Hà nội mùa đông giá lạnh, giữa sân trường vẫn thấp thoáng cậu sinh viên  dáng người mảnh khảnh khoác trên mình chiếc áo cộc tay hàng hiệu và đôi dép tổ ong bước hối hả vào thư viện sau cuối mỗi buổi học.

Sinh viên cả khoa nhìn cậu với ánh mắt dị biệt, mọi thứ không quan trọng với cậu ấy, quan trọng là kết quả học tập mỗi học kỳ phải đạt học bổng để có tiền học thêm một trường đại học khác.

Thời gian thấm thoát đã trải qua hơn 20 năm. Những trang sách trong thư viện đã được cậu sinh viên đó áp dụng và xây dựng nên thuật toán NKT Oscillator.

Nhân kỷ niệm ngày thành lập nhóm nghiên cứu chỉ báo NKT Oscillator; Mình  xin gửi lời cảm ơn sâu sắc những đóng góp của các thành viên trong nhóm cho sự thành công đến ngày hôm nay của NKT Oscillator.

Khi công bố một phần chỉ báo NKT Oscillator (New Key Trade)  đã có rất nhiều nhà đầu tư tổ chức cũng như cá nhân gửi mail, gọi điện cho chúng tôi để mong muốn hợp tác với traiphieu.com, đó là câu trả lời chính xác nhất con đường chúng tôi đang đi đúng hướng.

Chỉ báo NKT Oscillator (New Key Trade) được nghiên cứu và phát triển đến giờ đã thu được thành công ngoài mong đợi. Lâu nay, chỉ báo này được chúng tôi bảo mật khá kỹ, tất cả các thành viên trong nhóm nghiên cứu mỗi người chỉ có thể nắm một phần nguyên lý, thuật toán nên tất cả định chế tài chính có ý định mua chuộc, đánh cắp, sao chép thuật toán của traiphieu.com là điều không thể, vô nghĩa .

Lịch sử hình thành phát triển của Nhóm nghiên cứu hết sức ngẫu nhiên, tình cờ, hồn nhiên và vô tư. Chúng tôi đến từ những vùng quê khác nhau, học các trường đại học khác nhau, đang công tác tại sở, ngành, những tổng công ty, định chế tài chính hàng đầu tại Việt Nam với mức lương hấp dẫn. Ban đầu nhóm chỉ có 3 thành viên sau đó kết nạp thêm 2 thành viên, cả 5 thành viên đều mang trong lòng cháy bỏng niềm đam mê sáng tạo, khát vọng vươn lên, chấp nhận từ bỏ tất cả, thậm chí là cả địa vị, tiền bạc kỳ vọng sẽ tìm ra quy luật sau những con số tưởng chừng như ngẫu nhiên, lạnh lùng trên bảng điện tử.

Chúng tôi không thể xin được bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào tài trợ cho những ý tưởng điên rồ của chúng tôi. Để có kinh phí nghiên cứu, chúng tôi đành thuê phòng, đường truyền, thiết bị của một công ty chứng khoán với mức 15 triệu đồng/tháng và tự xây dựng một quỹ đầu tư để có tiền nuôi sống bản thân, gia đình, trang trải chi phí trong quá trình nghiên cứu.

Sau 1,5 năm làm việc cùng nhau, cả nhóm nghiên cứu sống như những người anh em thân trong gia đình, cả nhóm luôn tràn ngập tiếng cười khi thành công nối tiếp thành công, tạo ra những lợi nhuận “kinh hoàng” tại thời điểm đó mặc tiếng kêu than của thị trường, nhóm chúng tôi vẫn kiếm ra tiền, vẫn uống rượu, vẫn chơi trò chơi điện tử “đế chế” vào những buổi cuối tuần để rèn thêm kỹ năng quản lý tài nguyên.

Đằng sau những niềm vui bất tận của cả nhóm luôn ẩn chứa sự lo lắng của người Nhóm trưởng với những câu hỏi ru anh vào giấc ngủ: Nếu thành công, vinh quang sẽ được chia sẻ như nào? Nếu thất bại, điều gì sẽ chờ đợi số phận 5 con người ?

Nguồn: NKT Oscillator

Đăng bởi Để lại phản hồi

Giá trị doanh nghiệp là gì? Hiểu rõ để không mua phải doanh nghiệp ‘giấy vụn’.

Giá trị Doanh nghiệp, hay EV ngắn gọn, là thước đo tổng giá trị của một công ty, thường được sử dụng như một sự thay thế toàn diện hơn đối với vốn hóa thị trường vốn chủ sở hữu. Giá trị doanh nghiệp được tính bằng vốn hóa thị trường cộng với nợ, cổ phần thiểu số và cổ phần ưu đãi trừ đi tổng tiền mặt và các khoản tương đương tiền.

EV = giá trị thị trường của cổ phiếu phổ thông + giá trị thị trường của cổ phiếu ưu đãi + giá trị thị trường của khoản nợ + lợi ích của cổ đông thiểu số – tiền mặt và đầu tư.

Thông thường, lợi ích của người thiểu số và vốn chủ sở hữu được ưu tiên là không, mặc dù điều này không phải là trường hợp.

Giảm ‘Giá trị Doanh nghiệp (EV)’

Giá trị doanh nghiệp (EV) có thể được coi là giá tiếp quản lý thuyết nếu một công ty được mua. EV khác với vốn hóa thị trường đơn giản bằng nhiều cách, và nhiều người cho rằng nó là một sự đại diện chính xác hơn về giá trị của một công ty. Ví dụ, giá trị của nợ của một công ty sẽ phải được trả bởi người mua khi tiếp quản một công ty, do đó, giá trị doanh nghiệp cung cấp việc định giá tiếp quản chính xác hơn nhiều vì nó bao gồm nợ trong tính toán giá trị của nó.

Tại sao giá trị vốn hóa thị trường lại không đại diện cho giá trị của một công ty? Nó để lại rất nhiều yếu tố quan trọng, chẳng hạn như một khoản nợ của công ty trên một mặt và dự trữ tiền mặt của nó ở mặt kia. Giá trị doanh nghiệp về cơ bản là một sự điều chỉnh giới hạn thị trường, vì nó kết hợp nợ và tiền mặt để xác định giá trị của một công ty.

Giá trị doanh nghiệp trong thực tiễn

Công thức cho EV là tổng của một giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu (vốn hóa thị trường) và giá trị thị trường của nợ của một công ty, ít tiền mặt hơn. Mức vốn hóa thị trường của một công ty được tính bằng cách nhân giá cổ phiếu bằng số cổ phần đang lưu hành. Nợ ròng là giá trị thị trường của nợ trừ đi tiền mặt. Một công ty mua lại một công ty khác là giữ tiền mặt của công ty mục tiêu, đó là lý do tại sao tiền mặt cần phải được khấu trừ khỏi giá của công ty với giá thị trường.

Hãy tính giá trị doanh nghiệp cho Macy’s (NYSE: M). Trong năm tài chính kết thúc vào ngày 28 tháng 1 năm 2017, Macy ghi nhận:

Dữ liệu của Macy được kéo từ bản cáo bạch 10 tháng 10 năm 2017
1# Cổ phiếu đang lưu lại308,5 triệu
2Giá Cổ phiếu tính đến ngày 17/11/17$ 20.22
3Vốn hóa thị trường6.238 tỷ đô laMục 1 x 2
4Nợ ngắn hạn309 triệu đô la
5Nợ dài hạn6,5 tỷ đô la
6Tổng nợ6,8 tỷ đô laMục 4+ 5
7Tiền và các khoản tương đương tiền1,3 tỷ USD
Giá trị doanh nghiệp11.808 tỷ đô laMục 3 + 6 – 7

Nếu một công ty mua cổ phiếu của Macy với giá 6,24 tỷ đô la, nó cũng sẽ phải thanh toán các khoản nợ chưa thanh toán của Macy với tổng số tiền lên đến 6,87 tỷ đô la. Tổng cộng, công ty mua lại sẽ chi 13,11 tỷ đô la Mỹ để mua Macy’s. Tuy nhiên, vì Macy’s có 1,3 tỷ USD tiền mặt, số tiền này có thể được thêm vào để trả nợ. Số tiền từ kho bạc của công ty mua lại sẽ được sử dụng để trả nợ của Macy sẽ chỉ là 6,87 tỷ đô la – 1,3 tỷ đô la = 5,57 tỷ đô la. Do đó, công ty sẽ chi trả 5,57 tỷ đô la Mỹ + 6,24 tỷ đô la Mỹ = 11,81 tỷ đô la, đó là giá trị thị trường ước tính của Macy’s.

Giá trị doanh nghiệp như một doanh nghiệp nhiều

Doanh nghiệp nhân với giá trị doanh nghiệp liên quan đến tổng giá trị của một công ty được phản ánh trong giá trị thị trường của vốn từ tất cả các nguồn để đo lường thu nhập hoạt động được tạo ra, chẳng hạn như thu nhập trước lãi, thuế, khấu hao và khấu trừ ( EBITDA) .

EBITDA = thu nhập định kỳ từ hoạt động liên tục + lãi + thuế + khấu hao + khấu hao

Giá trị doanh nghiệp / EBITDA nhiều tích cực liên quan đến tốc độ tăng trưởng của dòng tiền tự do cho công ty (FCFF) và tiêu cực liên quan đến mức rủi ro tổng thể của công ty và chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC).

EV / EBITDA rất hữu ích trong một số trường hợp:

  • Tỷ lệ này có thể hữu ích hơn so với tỷ số P / E khi so sánh các doanh nghiệp với mức độ đòn bẩy tài chính khác nhau (DFL).
  • EBITDA rất hữu ích cho việc đánh giá các doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn với mức khấu hao và khấu trừ cao.
  • EBITDA thường là tích cực ngay cả khi thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) không.

EV / EBITDA cũng có một số nhược điểm, tuy nhiên:

  • Nếu vốn lưu động đang phát triển, EBITDA sẽ phóng đại dòng tiền từ hoạt động (CFO hoặc OCF). Hơn nữa, biện pháp này bỏ qua các chính sách nhận dạng doanh thu khác nhau như thế nào có thể ảnh hưởng đến OCF của công ty.
  • Do dòng tiền tự do cho doanh nghiệp thu được số tiền chi tiêu vốn (CapEx) nên nó liên quan chặt chẽ hơn với lý thuyết định giá hơn là EBITDA. EBITDA sẽ là một biện pháp nói chung đầy đủ nếu chi phí vốn bằng nhau với chi phí khấu hao.

Một số khác được sử dụng phổ biến để xác định giá trị tương đối của các doanh nghiệp là giá trị doanh nghiệp theo tỷ lệ bán hàng, hoặc EV / Bán hàng . EV / doanh thu được coi là một biện pháp chính xác hơn so với tỷ lệ Giá / Bán hàng vì nó tính đến giá trị và số tiền nợ mà một công ty có, cần phải được trả lại tại một số điểm. Nói chung, EV / doanh thu bán hàng thấp hơn, nhiều công ty được đánh giá là hấp dẫn hoặc bị đánh giá thấp. Tỷ lệ EV / doanh thu thực tế có thể âm tính vào thời điểm khi tiền mặt nắm giữ bởi một công ty lớn hơn vốn hóa thị trường và giá trị nợ, có nghĩa là công ty về cơ bản có thể tự nó bằng tiền mặt của mình.

 

Đăng bởi Để lại phản hồi

Hiện thực hóa các lợi ích mà Hiệp định CPTPP mang lại cho người dân và doanh nghiệp trên cả nước.

Bộ Công Thương đã ban hành quyết định số 456/QĐ-BCT về kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP. Quyết định này của Bộ Công Thương gồm 2 phần gồm: kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP của Bộ Công Thương; trong đó, xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ chính với các lộ trình thực hiện cụ thể và phụ lục các công việc cụ thể được phân công cho từng đơn vị trong Bộ Công Thương để triển khai kèm theo các yêu cầu chi tiết về kết quả và thời gian hoàn thành.

Các nhóm công việc chính sẽ được Bộ Công Thương tập trung thực hiện trong 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 năm 2019 và giai đoạn 2 từ năm 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2035.
Các nhóm công việc chính là khẩn trương xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thực thi Hiệp định CPTPP; trong đó, tập trung vào các lĩnh vực thuộc phạm vi phụ trách như quản lý xuất nhập khẩu, quy tắc xuất xứ, cạnh tranh…
Ngoài ra, Bộ đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến về Hiệp định CPTPP thông qua tất cả các hình thức khác nhau như: phát thanh, truyền hình, báo chí, hội nghị, hội thảo, ấn phẩm, internet … nhằm đảm bảo việc cộng đồng doanh nghiệp hiểu rõ, hiểu đúng về các cam kết của Hiệp định CPTPP. Từ đó, tận dụng được tối đa những cơ hội và hạn chế tối thiểu các thách thức mà Hiệp định mang lại.
Mặt khác, các cơ quan chức năng khẩn trương xây dựng và triển khai các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp thông qua các chương trình phát triển thị trường xuất khẩu, hỗ trợ doanh nghiệp trong các vụ việc phòng vệ thương mại để bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp.
Cùng đó, Bộ điều phối và tham gia các hoạt động của Hội đồng CPTPP, các Ủy ban chuyên môn CPTPP và các công việc khác trong khuôn khổ Hiệp định CPTPP.
Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tập trung chỉ đạo và thực hiện quyết liệt Kế hoạch này nhằm góp phần hiện thực hóa các lợi ích mà Hiệp định CPTPP mang lại cho người dân và doanh nghiệp trên cả nước.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Dệt May năm 2019 phấn đấu đạt mục tiêu xuất khẩu 40 tỷ USD

Bước vào năm 2019, kinh tế thế giới tiềm ẩn những diễn biến rất khó lường. Cuộc chiến thương mại Mỹ- Trung chưa đi đến hồi kết, còn nhiều ẩn số, những điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến thị trường xuất khẩu dệt may thế giới.

Hơn nữa, một trong những rủi ro mà Việt Nam phải đối mặt trong năm 2019 là lãi suất tăng. Một số nước thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất, như Mỹ hoặc EU, Nhật Bản, lãi suất toàn cầu tăng lên tác động đến tỷ giá và dòng vốn đầu tư sẽ dịch chuyển từ khu vực lãi suất thấp sang khu vực có lãi suất cao, tổng cầu của thị trường thế giới sẽ giảm và áp lực sẽ chuyển sang lãi suất tiền vay.

Tuy nhiên, trong thách thức luôn có cơ hội. Nói về cơ hội với ngành dệt may trong năm 2019, ông Lê Tiến Trường- Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt May Việt Nam- cho rằng, lợi thế dành cho Việt Nam đến từ CPTPP với hai thị trường xuất khẩu dệt may tiềm năng là 20 tỷ USD của Canada và 40 tỷ USD của Úc. Việt Nam hiện mới chỉ có 4-5% từ các thị trường này. Nếu kịch bản tốt, 6 tháng cuối năm 2019 sẽ có thêm thị trường EU, từ đó có thể tăng thêm khoảng 1 tỷ USD. Chính vì thế đứng trong phương án giữ được các thị trường xuất khẩu chính ổn định, hiệp định EVFTA đi vào hiệu lực, tận dụng tốt CPTPP, ngành dệt May Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu 40 tỷ USD trong năm 2019.

Cùng với đó, ngành dệt may đặt mục tiêu phải vừa tăng trưởng đảm bảo lợi nhuận hiệu quả, đồng thời đảm bảo bền vững việc làm cho người lao động. Nếu như trước đây, mỗi năm, ngành dệt may đặt mục tiêu là tạo thêm việc làm, còn hiện nay, mục tiêu đã thay đổi, đó là phải tạo việc làm bền vững và được người lao động trên thị trường chấp nhận- ông Lê Tiến Trường nhấn mạnh.

Xuất khẩu và thị trường nội địa song hành

Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu của Tập đoàn Dệt May Việt Nam đạt 3,05 tỷ USD. Đáng chú ý, mặc dù kim ngạch xuất khẩu tăng 11% so với cùng kỳ năm 2017, nhưng lợi nhuận của Tập đoàn lại đạt trên 30% do đã dịch chuyển được chất lượng đơn hàng. Đây là kết quả của một chuỗi nỗ lực, được khởi động từ năm 2015 cho đến nay. Năm 2018, Tập đoàn tập trung vào tái đầu tư nhưng không theo chiều rộng mà chú trọng về chất lượng xuất khẩu, phát triển theo hướng bền vững. Kiên trì theo đuổi mục tiêu chiến lược, đó là tăng trưởng chất lượng và bền vững, Tập đoàn chú trọng vào chất lượng đơn hàng, đáp ứng những đơn hàng khó, đòi hỏi tay nghề cao, giao hàng đúng thời hạn.

Đặc biệt, cùng với đẩy mạnh xuất khẩu, Tập đoàn và các thành viên tiếp tục chú trọng mở rộng thị trường nội địa. Ông Cao Hữu Hiếu cho hay, với chiến lược phát triển song hành, cả xuất khẩu và thị trường nội địa, các đơn vị của Tập đoàn như: May 10, May Đức Giang- dệt Phong Phú, Việt Tiến, May Nhà Bè, nhiều năm nay đã chú trọng xây dựng và phát triển các thương hiệu thời trang trong nước với các mẫu thiết kế mới bắt kịp xu hướng thời trang thế giới, được người tiêu dùng rất ưa chuộng như: S.pearl của Tổng công ty Đức Giang, Grusz của Tổng Công ty May 10, Merriman của Tổng Công ty Hòa Thọ, Mattana của Tổng Công ty Nhà Bè… Đây là bước đi đúng hướng của ngành dệt may Việt Nam, tập trung vào khâu thiết kế mẫu mã để nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm. Năm 2019, Tập đoàn tiếp tục phát triển thiết kế thời trang cho từng lứa tuổi, đa dạng hóa kiểu dáng cũng như nguyên liệu đầu vào, phân khúc thị trường, nhằm chiếm lĩnh thị trường nội địa.

Cùng với đó, Tập đoàn cũng đang tiến hành xây dựng thương hiệu cho ngành sợi để định vị trên thị trường may quốc tế; phấn đấu giữ vị trí TOP 5 nhà sản xuất được khách hàng ưu tiên lựa chọn đặt hàng- ông Cao Hữu Hiếu khẳng định.

Ông Lê Tiến Trường- Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt May Việt Nam: Năm 2019, ngành dệt may Việt Nam phấn đấu đạt 40 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu. Đây là mục tiêu rất cao. Trong bối cảnh thế giới nhiều biến động như hiện nay, để đạt được mức tăng trưởng 10% xuất khẩu, doanh nghiệp dệt may cần đưa ra các giải pháp cụ thể với từng kịch bản thị trường, liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp sợi, vải để cùng vượt qua các khó khăn thách thức biến động thị trường.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chuyên gia Traiphieu phân tích VNINDEX phiên giao dịch ngày 1/4/2019

Nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục có tuần giao dịch tích cực hỗ trợ tốt cho tâm lý thị trường khi mua ròng hơn 510 tỷ đồng. Trong khi chứng chỉ quỹ E1VFVN30 là tâm điểm gom vào thì một số mã bất động sản lại bị khối này xả bán khá mạnh như NBB, VRE, VGC, VCG…

Trên sàn HOSE, khối ngoại thực hiện 4 phiên mua ròng và bán ròng 1 phiên duy nhất ngày 26/3. Tổng cộng, khối ngoại đã mua ròng 19,56 triệu đơn vị với tổng giá trị tương ứng 470,79 tỷ đồng, tăng 13,54% về lượng.

Chuyên gia traiphieu.com dựa chỉ báo NKT (New Key Trade – do traiphieu.com phát minh và thông tin kinh tế vĩ mô, vi mô, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, chúng tôi cho rằng phiên giao dịch ngày 1/4/2019 VNINDEX sẽ bật tăng trở lại khi chạm vùng kháng cự 978 – 973.

Tác giả bài viết: Sống mãi với niềm đam mê
Nguồn tin: traiphieu.com

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chuyên gia Traiphieu phân tích VNINDEX phiên giao dịch ngày 19/3/2019

Trên sàn HOSE, khối ngoại mua vào với khối lượng 19,56 triệu đơn vị, giá trị mua vào tương ứng 752,09 tỷ đồng, giảm 32,47% về lượng và 45,41% về giá trị so với phiên trước.


Ngược lại, khối này bán ra với khối lượng 22,33 triệu đơn vị, tổng giá trị 831,36 tỷ đồng, giảm 23,8% về lượng và 46,26% về giá trị so với phiên trước.

Như vậy, khối ngoại đã bán ròng 2,78 triệu đơn vị với tổng giá trị tương ứng 79,27 tỷ đồng, tăng gấp gần 7 lần về lượng nhưng giảm 53,18% về giá trị so với phiên cuối tuần trước.

Chuyên gia traiphieu.com dựa trên thông tin kinh tế vĩ mô, vi mô, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và các chỉ báo phân tích kỹ thuật, chúng tôi cho rằng phiên giao dịch ngày 19/3/2019  VNINDEX sẽ chạm mốc 1019.

Tác giả bài viết: Sống mãi với niềm đam mê
Nguồn tin: traiphieu.com