Đăng bởi Để lại phản hồi

Hiện thực hóa các lợi ích mà Hiệp định CPTPP mang lại cho người dân và doanh nghiệp trên cả nước.

Bộ Công Thương đã ban hành quyết định số 456/QĐ-BCT về kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP. Quyết định này của Bộ Công Thương gồm 2 phần gồm: kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP của Bộ Công Thương; trong đó, xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ chính với các lộ trình thực hiện cụ thể và phụ lục các công việc cụ thể được phân công cho từng đơn vị trong Bộ Công Thương để triển khai kèm theo các yêu cầu chi tiết về kết quả và thời gian hoàn thành.

Các nhóm công việc chính sẽ được Bộ Công Thương tập trung thực hiện trong 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 năm 2019 và giai đoạn 2 từ năm 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2035.
Các nhóm công việc chính là khẩn trương xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thực thi Hiệp định CPTPP; trong đó, tập trung vào các lĩnh vực thuộc phạm vi phụ trách như quản lý xuất nhập khẩu, quy tắc xuất xứ, cạnh tranh…
Ngoài ra, Bộ đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến về Hiệp định CPTPP thông qua tất cả các hình thức khác nhau như: phát thanh, truyền hình, báo chí, hội nghị, hội thảo, ấn phẩm, internet … nhằm đảm bảo việc cộng đồng doanh nghiệp hiểu rõ, hiểu đúng về các cam kết của Hiệp định CPTPP. Từ đó, tận dụng được tối đa những cơ hội và hạn chế tối thiểu các thách thức mà Hiệp định mang lại.
Mặt khác, các cơ quan chức năng khẩn trương xây dựng và triển khai các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp thông qua các chương trình phát triển thị trường xuất khẩu, hỗ trợ doanh nghiệp trong các vụ việc phòng vệ thương mại để bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp.
Cùng đó, Bộ điều phối và tham gia các hoạt động của Hội đồng CPTPP, các Ủy ban chuyên môn CPTPP và các công việc khác trong khuôn khổ Hiệp định CPTPP.
Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tập trung chỉ đạo và thực hiện quyết liệt Kế hoạch này nhằm góp phần hiện thực hóa các lợi ích mà Hiệp định CPTPP mang lại cho người dân và doanh nghiệp trên cả nước.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Dệt May năm 2019 phấn đấu đạt mục tiêu xuất khẩu 40 tỷ USD

Bước vào năm 2019, kinh tế thế giới tiềm ẩn những diễn biến rất khó lường. Cuộc chiến thương mại Mỹ- Trung chưa đi đến hồi kết, còn nhiều ẩn số, những điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến thị trường xuất khẩu dệt may thế giới.

Hơn nữa, một trong những rủi ro mà Việt Nam phải đối mặt trong năm 2019 là lãi suất tăng. Một số nước thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất, như Mỹ hoặc EU, Nhật Bản, lãi suất toàn cầu tăng lên tác động đến tỷ giá và dòng vốn đầu tư sẽ dịch chuyển từ khu vực lãi suất thấp sang khu vực có lãi suất cao, tổng cầu của thị trường thế giới sẽ giảm và áp lực sẽ chuyển sang lãi suất tiền vay.

Tuy nhiên, trong thách thức luôn có cơ hội. Nói về cơ hội với ngành dệt may trong năm 2019, ông Lê Tiến Trường- Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt May Việt Nam- cho rằng, lợi thế dành cho Việt Nam đến từ CPTPP với hai thị trường xuất khẩu dệt may tiềm năng là 20 tỷ USD của Canada và 40 tỷ USD của Úc. Việt Nam hiện mới chỉ có 4-5% từ các thị trường này. Nếu kịch bản tốt, 6 tháng cuối năm 2019 sẽ có thêm thị trường EU, từ đó có thể tăng thêm khoảng 1 tỷ USD. Chính vì thế đứng trong phương án giữ được các thị trường xuất khẩu chính ổn định, hiệp định EVFTA đi vào hiệu lực, tận dụng tốt CPTPP, ngành dệt May Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu 40 tỷ USD trong năm 2019.

Cùng với đó, ngành dệt may đặt mục tiêu phải vừa tăng trưởng đảm bảo lợi nhuận hiệu quả, đồng thời đảm bảo bền vững việc làm cho người lao động. Nếu như trước đây, mỗi năm, ngành dệt may đặt mục tiêu là tạo thêm việc làm, còn hiện nay, mục tiêu đã thay đổi, đó là phải tạo việc làm bền vững và được người lao động trên thị trường chấp nhận- ông Lê Tiến Trường nhấn mạnh.

Xuất khẩu và thị trường nội địa song hành

Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu của Tập đoàn Dệt May Việt Nam đạt 3,05 tỷ USD. Đáng chú ý, mặc dù kim ngạch xuất khẩu tăng 11% so với cùng kỳ năm 2017, nhưng lợi nhuận của Tập đoàn lại đạt trên 30% do đã dịch chuyển được chất lượng đơn hàng. Đây là kết quả của một chuỗi nỗ lực, được khởi động từ năm 2015 cho đến nay. Năm 2018, Tập đoàn tập trung vào tái đầu tư nhưng không theo chiều rộng mà chú trọng về chất lượng xuất khẩu, phát triển theo hướng bền vững. Kiên trì theo đuổi mục tiêu chiến lược, đó là tăng trưởng chất lượng và bền vững, Tập đoàn chú trọng vào chất lượng đơn hàng, đáp ứng những đơn hàng khó, đòi hỏi tay nghề cao, giao hàng đúng thời hạn.

Đặc biệt, cùng với đẩy mạnh xuất khẩu, Tập đoàn và các thành viên tiếp tục chú trọng mở rộng thị trường nội địa. Ông Cao Hữu Hiếu cho hay, với chiến lược phát triển song hành, cả xuất khẩu và thị trường nội địa, các đơn vị của Tập đoàn như: May 10, May Đức Giang- dệt Phong Phú, Việt Tiến, May Nhà Bè, nhiều năm nay đã chú trọng xây dựng và phát triển các thương hiệu thời trang trong nước với các mẫu thiết kế mới bắt kịp xu hướng thời trang thế giới, được người tiêu dùng rất ưa chuộng như: S.pearl của Tổng công ty Đức Giang, Grusz của Tổng Công ty May 10, Merriman của Tổng Công ty Hòa Thọ, Mattana của Tổng Công ty Nhà Bè… Đây là bước đi đúng hướng của ngành dệt may Việt Nam, tập trung vào khâu thiết kế mẫu mã để nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm. Năm 2019, Tập đoàn tiếp tục phát triển thiết kế thời trang cho từng lứa tuổi, đa dạng hóa kiểu dáng cũng như nguyên liệu đầu vào, phân khúc thị trường, nhằm chiếm lĩnh thị trường nội địa.

Cùng với đó, Tập đoàn cũng đang tiến hành xây dựng thương hiệu cho ngành sợi để định vị trên thị trường may quốc tế; phấn đấu giữ vị trí TOP 5 nhà sản xuất được khách hàng ưu tiên lựa chọn đặt hàng- ông Cao Hữu Hiếu khẳng định.

Ông Lê Tiến Trường- Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt May Việt Nam: Năm 2019, ngành dệt may Việt Nam phấn đấu đạt 40 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu. Đây là mục tiêu rất cao. Trong bối cảnh thế giới nhiều biến động như hiện nay, để đạt được mức tăng trưởng 10% xuất khẩu, doanh nghiệp dệt may cần đưa ra các giải pháp cụ thể với từng kịch bản thị trường, liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp sợi, vải để cùng vượt qua các khó khăn thách thức biến động thị trường.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Cơ hội cho Bạn muốn sở hữu thương hiệu Hương Tâm Linh thông qua nắm giữ cổ phần?

Trước hết, Traiphieu.com gửi lời chào trân trọng và lời cảm ơn chân thành đến Quý nhà đầu tư đã, đang và sẽ tin tưởng, ủng hộ, hợp tác và sử dụng các sản phẩm tài chính của traiphieu.com.


Thực hiện chủ trương bán toàn bộ 49% cổ phần hóa tại Hương Tâm Linh – Nhãn hiệu hương/nhang cao cấp hàng đầu Việt Nam mà quỹ đầu tư traiphieu.com đang sở hữu. Thông qua Thư mời này, chúng tôi trân trọng kính mời các nhà đầu tư quan tâm tham gia hợp tác với tư cách Nhà đầu tư chiến lược để đồng hành và gắn bó với Hương Tâm Linh.

Traiphieu.com đã thống nhất với Hương Tâm Linh  sẽ lựa chọn các nhà đầu tư chiến lược nắm giữ 49% với các tiêu chí cụ thể như sau:

* Tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược:

– Là nhà đầu tư trong nước, nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực: Hương, nhang, nến hoặc nhà đầu tư có tiềm lực tài chính lớn để tổ chức mạng lưới phân phối sản phẩm vào thị trường miền Nam.

– Có năng lực tài chính thể hiện ở các tiêu chí sau:
  • Có tổng tài sản tối thiểu 50 tỷ đồng vào niên độ tài chính năm 2017;
  • Có vốn chủ sở hữu tối thiểu 25 tỷ đồng vào niên độ tài chính năm 2017;
  • Chứng minh có đủ nguồn vốn góp;
– Có cam kết bằng văn bản về việc mua hết số lượng cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược.
– Có cam kết bằng văn bản về việc gắn bó lợi ích lâu dài với Công ty cổ phần, hỗ trợ Công ty cổ phần về vốn để phát triển thị trường.
– Không chuyển nhượng số cổ phần được mua trong thời hạn tối thiểu 02 (năm) năm kể từ ngày Công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
– Không thực hiện các giao dịch nào với Công ty cổ phần dẫn đến xung đột lợi ích và tạo ra sự độc quyền hoặc cạnh tranh không lành mạnh với khách hàng, nhà đầu tư khác của Công ty cổ phần.

Mọi chi tiết liên hệ:

Mail: traiphieu.com@gmail.com – DD: 0949 22 55 66

(Nếu cần cung cấp thêm thông tin, xin Quý nhà đầu tư vui tham khảo thông tin tại website: www.huongtamlinh.vn hoặc vui lòng liên hệ với số điện thoại trên)

 Rất mong nhận được sự quan tâm, hợp tác của Quý nhà đầu tư.
 Trân trọng!
Đăng bởi Để lại phản hồi

Kích cầu ngành công nghiệp vũ khí Mỹ

Đêm 13/4, rạng sáng 14/4, Mỹ và hai đồng minh Anh, Pháp đã tiến hành cuộc không kích Syria để đáp trả cáo buộc chính phủ Tổng thống Assad sử dụng vũ khí hóa học khiến gần 70 dân thường thiệt mạng tại một thị trấn ở Syria hôm 7/4.

Ba mục tiêu chính của vụ tấn công là 1 trung tâm nghiên cứu khoa học ở Damascus, 1 cơ sở lưu trữ vũ khí hóa học ở phía tây Homs, và 1 khu khác cùng các điểm chỉ huy gần đó.

Lầu Năm Góc khẳng định vào buổi sáng 15/4 rằng liên quân đã phóng ra tổng cộng 105 tên lửa. Đáp lại, Syria khẳng định không quân của họ đã đánh chặn thành công 71 tên lửa hành trình. Trong khi đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói cuộc không kích vào Syria là “thành công hoàn hảo” và “kết quả không thể tốt hơn”.

Trước đó, tờ Washington Post dẫn thông tin từ một quan chức giấu tên của Bộ Quốc phòng, vụ tấn công sử dụng các vũ khí được phóng từ máy bay và tàu hải quân Mỹ, bao gồm khoảng 100 tên lửa hành trình Tomahawk.

Theo CNBC, mỗi tên lửa Tomahawk trị giá khoảng 1,4 triệu USD. Với khoảng 100 quả được phóng, chính phủ Mỹ đã tiêu tốn tầm 140 triệu USD.

Theo dữ liệu của SIPRI, trong giai đoạn 2012-2016, Mỹ xuất khẩu ước tính 47,16 tỷ USD vũ khí và thiết bị quân sự, là nước có kim ngạch xuất khẩu quốc phòng lớn nhất thế giới. Kế đó là Nga với 33,18 tỷ USD và Trung Quốc với 9,13 tỷ USD. Trong 10 tập đoàn quốc phòng lớn nhất thế giới, có 7 tập đoàn của Mỹ; trong 3 tập đoàn lớn nhất, 2 là của Mỹ gồm Lockheed Martin, Boeing và một của Anh là BAE Systems.

Ớn lạnh trước dàn vũ khí tỷ USD Mỹ và Nga trưng ở Syria

Năm 2017, ngân sách cho quốc phòng Mỹ là 582,7 tỷ USD. Khi lên nắm quyền, ông Donald Trump chủ trương đặt an ninh quốc gia là một trong những ưu tiên của mình và đã “ngáng chân” người tiền nhiệm khi tuyên bố ủng hộ đánh giá lại ngân sách quốc phòng.

Ngày 27/2, Tổng thống Mỹ đã đề xuất “một khoản tăng lịch sử” cho quốc phòng năm 2018 để “kiến thiết lại” quân đội và để đối phó với các mối đe dọa của một thế giới “nguy hiểm”. Mục tiêu là đạt đến 603 tỷ USD vào năm 2018.

Ngay lập tức, thông báo trên đã khiến cổ phần của các công ty có hợp đồng với Lầu Năm Góc tăng lên. Nhưng với thượng nghị sĩ Cộng Hòa John McCain, kiêm chủ tịch Ủy ban Quân sự tại Thượng Viện, khoản tăng đó vẫn chưa đủ và ông yêu cầu phải tăng thành 640 tỷ USD cho năm 2018.

Không dừng lại ở con số này, chính quyền Tổng thống Donald Trump còn dự kiến sẽ đề xuất lên quốc hội bản kế hoạch ngân sách quốc phòng cho năm 2019 với tổng trị giá lên tới 716 tỷ USD.

Khi ra lệnh bắn cả trăm tên lửa Tomahawk, mỗi tên lửa trị giá hơn 1 triệu USD, Tổng thống Mỹ đã gửi tín hiệu tích cực mới đến một trong số các tập đoàn công nghiệp có thế lực của Mỹ. Quyết định trên cũng được hiểu là lời hứa một tương lai xán lạn cho ngành công nghiệp vũ khí.

Một trong những lời hứa tranh cử của ông Trump là làm cho “nước Mỹ lại vĩ đại”. Có nhiều cách hiểu tuyên ngôn này. Với ông Trump là đưa sản xuất trở lại, là lợi ích Mỹ trên hết, và cả tăng cường đầu tư quốc phòng.

Vốn xuất thân là một thương gia tài ba, ông Trump sẽ luôn luôn tính toán nước Mỹ sẽ được gì trong bất kỳ thương lượng nào với một nước khác.

Dầu mỏ – mục tiêu của Mỹ ở Syria thời hậu chiến

Theo báo cáo của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), sự bất ổn tại Syria và Yemen đã giúp đẩy giá dầu thô Brent vượt quá mức 70 USD/thùng.

Trong phiên giao dịch cuối tuần (13/4), giá dầu Brent đóng cửa tăng 56 xu Mỹ lên 72,58 USD/thùng, trong khi giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 32 xu Mỹ lên 67,39 USD/thùng.

Theo các chuyên gia, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông đang là nhân tố đẩy giá dầu lên cao hơn.

Mặc dù Syria không phải nước khai thác dầu lớn, nhưng nước này nằm gần eo biển Hormuz – trạm trung chuyển quan trọng với hàng triệu thùng dầu đi qua mỗi ngày.

Liên quan tới vai trò của Mỹ tại Syria, các chuyên gia ngay từ đầu đã nhận định, kiểu gì Mỹ cũng sẽ không rút quân. Ngày 2/4, ông Barýs Doster, nhà nghiên cứu chính trị tại Đại học Marmara của Thổ Nhĩ Kỳ, nhấn mạnh rằng, ít có khả năng Mỹ sớm rút quân khỏi Syria.

Mỏ dầu Rmeilane thuộc tỉnh Hasakah (Syria).

Mỹ đã cung cấp cho các nhóm người Kurd 5.000 xe tải với vũ khí và có kế hoạch sử dụng các nhóm này để thành lập quân đội chính quy lên tới 50.000 người. Bây giờ trên lãnh thổ Syria có 20 căn cứ của Mỹ. Sau khi đầu tư những khoản tiền lớn như vậy, chắc chắn người Mỹ sẽ không rời khỏi Syria trong tương lai gần, ông nói.

Quả đúng như vậy, ngày 3/4 (giờ Mỹ), Tổng thống Trump đã tuyên bố trong một cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia sẽ tiếp tục duy trì binh sĩ tại Syria. Ông Trump cho rằng cuộc chiến chống IS chưa thể kết thúc. Ông Trump tuyên bố Mỹ cần duy trì lực lượng tại Syria ít nhất thêm 2 năm nữa.

Trong khi Tổng thống Nga Putin tuyên bố đã sạch bóng IS thì tại sao Tổng thống Mỹ Donald Trump lại tuyên bố Mỹ không muốn rút quân để chống IS. Hay đó chỉ là cái cớ để Mỹ ở lại. Nếu vậy, Mỹ ở lại là vì cái gì?

Theo hãng tin Sputnik, trong Hội nghị An ninh Quốc tế tại Moscow (Nga), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Syria, ông Mahmoud al-Shawa đã cáo buộc Mỹ đang có ý đồ thiết lập kiểm soát đối với các mỏ dầu ở Syria.

Ông Mahmoud al-Shawa cho biết Mỹ đã “quyết định tạo ra nhiều lý do khác nhau để biện minh cho sự tồn tại bất hợp pháp của căn cứ và quân đội của nước này trên lãnh thổ Syria để thiết lập quyền kiểm soát và thống trị các mỏ dầu của Syria”. Vị Thứ trưởng cũng cáo buộc Mỹ duy trì tổ chức khủng bố IS tại Syria nhằm phục vụ mục đích này.

Vị quan chức này cũng lưu ý rằng sau khi các lực lượng của Nga và Iran “tham gia kết thúc cuộc chiến tại Syria ” thì Mỹ đã tăng cường sự hiện diện của mình ở phía bắc Syria.

Liên quân do Mỹ lãnh đạo bao gồm hơn 70 quốc gia thành viên đang tiến hành các hoạt động quân sự ở Syria và Iraq. Các hoạt động quân sự này được chính phủ Iraq ủng hộ, nhưng chính quyền Damascus lại lên tiếng phản đối sự hiện diện quân sự bất hợp pháp này.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chứng khoán Việt và cơn sóng thần 2007: “Điên vì chứng khoán” có lặp lại khi ký CPTPP

Liệu lịch sử có lặp lại. Năm 2007 Việt Nam gia nhập WTO, sau đúng 10 năm (2 nhiệm kỳ), 1 chu kỳ kinh tế mới có hình thành? Còn bây giờ chúng ta cùng nhìn lại những gì diễn ra trong năm 2007.



Tình trạng bỏ việc công sở đi đánh chứng khoán xảy ra như cơm bữa thời kỳ 2006 – 2007…

Những niềm vui chưa từng có đã đến với nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam trước Tết Nguyên đán 2007. Từ tháng 11/2006 đến hết tháng 1/2007, VN-Index đã bùng nổ gấp đôi. Một cái Tết rất rộn ràng, khi hầu như ai cũng có thể khoe những thành tích kiếm tiền đáng nể.

Câu nói “đừng nghe lời chuyên gia, hãy quan tâm tới túi tiền của mình” chưa bao giờ đúng như lúc ấy. Chẳng phải sao, khi những lời cảnh báo phần lớn là từ những chuyên gia hiếm khi bỏ một đồng vào đầu tư, và thị trường đã trả lời đanh thép những khuyến cáo thận trọng bằng những đợt tăng chóng cả mặt!

Phản ứng của đám đông

Một bài báo được đăng tải 2007 đã làm ngứa mắt không biết bao nhiêu nhà đầu tư, với tiêu đề: “Người Việt phát điên vì chứng khoán”. Lý do,  tờ báo đã dịch và đăng lại một bài viết của tờ Financial Times, khi hiếm lắm truyền thông quốc tế mới có bài viết về thị trường chứng khoán trong nước. “Stock market mania grips Vietnamese” là tiêu đề nguyên thủy của bài viết.

Nội dung bài báo cũng không có gì đặc biệt, nhưng cách sử dụng từ ngữ khi chuyển ngữ đã chạm vào lòng tự ái của nhà đầu tư: “Thật là điên rồ” (It’s a frenzy) – Jonathan Pincus, kinh tế gia trưởng của Liên hiệp quốc tại Hà Nội nói vào thời điểm đó. “Tất cả những ồn ào ở Hà Nội đều xoay quanh chuyện đầu tư vào thị trường chứng khoán. Tôi không biết liệu có bất kỳ người nào hiểu cái gì là giá trị của những công ty, nhưng họ vẫn đang mua bán những tờ giấy”.

Bản thân người viết bài này khi đó đã phải “cháy máy” để cố gắng làm dịu đi những phản ứng của bạn đọc. “Ngu”, “phá đám”, “ghen tức”, “nhỡ tàu” (thời kỳ đó thuật ngữ “chim lợn” – nôm na là nói xấu về một vấn đề nào đó nhằm tư lợi – vẫn chưa phổ biến) là những bình luận rát mặt của bạn đọc.

Bồi thêm vào cơn giận dữ của cộng đồng đầu tư trong nước ngay sau đó – ngày 1/3/2007, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố bản đánh giá và khuyến nghị liên quan đến thị trường chứng khoán Việt Nam.

Điều thú vị nhất là, chẳng mấy ai để ý tới các phân tích, khuyến nghị, mà chỉ quan tâm tới con số P/E (hệ số giá/lợi nhuận) trung bình của 20 công ty lớn nhất (chiếm 99% vốn hóa của thị trường) niêm yết trên HSX là khoảng 73 lần tính đến tháng 1/2007!

“Hệ số này là rất cao so với hầu hết các chuẩn mực thị trường khác. Mặc dù việc xuất hiện những đợt tăng giá chứng khoán nhanh và tăng hệ số P/E là hiện tượng phổ biến trên thị trường mới nổi đang phát triển nhanh nhưng vẫn là rất cao so với hầu hết các chuẩn mực thị trường khác. Một số nước châu Á cũng đã trải qua những thời kỳ tăng giá chứng khoán tương tự (thậm chí còn cao hơn), nhưng không có một nước nào có hệ số P/E trung bình cao như Việt Nam”.

Lần đầu tiên một tổ chức quốc tế bị cho là đã “chim lợn” thị trường chứng khoán Việt Nam! Lòng yêu nước và sự tự ái lập tức lan rộng trên các cộng đồng nhà đầu tư. Người viết bài này ít nhất phải sắp xếp 3 cuộc hẹn khác nhau với 3 nhóm nhà đầu tư chỉ để họ được thể hiện ý kiến phản biện, chỉ ra rằng IMF đã tính sai P/E của các cổ phiếu trên thị trường Việt Nam.

Theo báo cáo của IMF, thị trường đang có 17/107 cổ phiếu (16%) có P/E lớn hơn 43,24 lần; 46 (43%) cổ phiếu có P/E lớn hơn 20 lần. Trong nhóm 17 cổ phiếu này, 7 mã có P/E trên mức 70 lần là PVD, CII, KDC, VIP, FPT, BTC và HBC.

Các nhà đầu tư liên tục phản biện, chỉ ra rằng ngay trong bản tin hàng ngày của HSX cũng thể hiện con số thấp hơn: PVD “chỉ có” 338,77 lần, CII là 80,08 lần, KDC là 79,71 lần, FPT là 110,52 lần, BTC là 90 lần, HBC là 83,43 lần…

Đương nhiên vào thời điểm hiện tại nhìn lại, con số P/E nói trên quả thực “điên rồ”, nhưng vào năm 2007, những người bình thường mới là “điên”, còn “người điên” kiếm ra tiền lại là người bình thường!

VN-Index đạt đỉnh vào ngày 12/3/2007 với mức cao nhất trong ngày hôm đó là 1.179,32 điểm.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Nhờ đầu cơ đã sản sinh một nhà kinh tế học lỗi lạc Keyne

Keynes được coi là một trong những nhà kinh tế học có ảnh hưởng nhất trên thế giới. Trường phái chính sách kinh tế mới do ông gây dựng nên từ những năm 30 của thế kỷ trước vẫn được coi là một trong những cuộc cách mạng quan trọng nhất trong khoa học kinh tế. Thế nhưng, có lẽ rất ít người biết rằng ông đã từng là một nhà đầu cơ thành đạt.
 

Đầu cơ là cái mà Keynes vừa thích vừa sợ, vừa đam mê lại vừa nghi ngại

Để có được một nhà kinh tế học lỗi lạc Keynes, rất nhiều bài học kinh nghiệm thu được qua hoạt động đầu cơ được ông phát triển lên thành luận điểm trong học thuyết của mình. Sẽ không ngoa chút nào nếu nói rằng, không có nhà đầu cơ John Maynard Keynes thì không thể có nhà kinh tế học John Maynard Keynes, không có học thuyết kinh tế trọng cầu gắn liền với tên tuổi này.

Keynes sinh năm 1883 trong một gia đình có truyền thống học cao đỗ đạt ở Cambridge. Truyền thống hiếu học ấy của gia đình được ông phát huy, nhưng truyền thống xã hội và đạo đức của tầng lớp trí thức thời ấy ở nước Anh thì lại bị ông sao nhãng.

Ngay khi bước vào đại học, ông đã tham gia ngay Nhóm Bloomsbury – tập hợp các trí thức xung quanh nữ văn sỹ Virginia Woolf theo quan điểm bác bỏ tất cả những truyền thống và chuẩn mực giá trị của xã hội Anh. Những thành viên của nhóm này quan tâm đến nghệ thuật, thẩm mỹ học và triết học nhiều hơn là đến tiền tài và danh vọng, phẩm cách đạo đức trong lao động và tình dục vốn được cả nhà thờ Thiên chúa giáo lẫn Tin lành đề cao. Keynes công khai chuyện mình đồng tính luyến ái, cho dù đến năm 1924 lại kết hôn với nữ vũ công ba-lê Lydia Lopokova mà phù rể cho ông không phải ai khác ngoài chính anh chàng học sỹ Duncan Grant đã từng quan hệ yêu đương đồng tính với ông suốt bao năm trời. Tuy nhiên, khác với đa số thành viên trong nhóm, Keynes vẫn giữ mối liên hệ trực tiếp với cuộc sống bình thường chứ không hoàn toàn trên mây trên gió. Có lẽ chính vì thế mà ông vẫn thành đạt với tư cách là nhà kinh tế, quan chức chính phủ và cả nhà đầu cơ.

Tất cả mọi phi vụ đầu cơ chứng khoán của mình đều được ông ghi chép lại tỷ mỉ cho nên hậu thế biết rằng phi vụ đầu cơ đầu tiên của ông được thực hiện ngày 6-7-1905. Vào ngày đó ông mua 4 cổ phiếu của công ty bảo hiểm hàng hải Marine Insurance Company với giá 160,06 Bảng Anh – tương đương với 9.000 EURO bây giờ. Số tiền này được Keynes tiết kiệm từ những khoản tiền thưởng trong học tập và tiền bố mừng sinh nhật trong những năm học đại học. Ngay từ lần đầu tiên này, ông đã nhận thức được rằng đầu cơ luôn rủi ro nhưng có thể làm giàu nhanh chóng. Suốt sự nghiệp đầu cơ chứng khoán, ông luôn bị giằng xé giữa cảm giác không cưỡng lại được sự cuốn hút của đầu cơ và lo ngại về rủi ro. Có lẽ chính vì thế là ông luôn rất thận trọng khi sử dụng tiền của người khác hoặc đi vay để đầu cơ. Chậm và ít nhưng chắc chắn thắng là phương châm tối thượng của Keynes trong đầu cơ. Đầu cơ là cái mà ông vừa thích vừa sợ, vừa đam mê lại vừa nghi ngại, một lần vướng vào rồi rất khó dứt ra được.

Khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, ông đã có số tiền 16.431 Bảng Anh, gấp 100 lần số tiền bỏ ra để mua 4 cổ phiếu đầu tiên. Những phi vụ đầu cơ của John không quy mô và tầm cỡ, nhưng cứ đều đều và hiệu quả, đủ để ông kiếm được tiền triệu và không bị sa cơ lỡ vận, trắng tay phơi áo mỗi lần bị thua. Nhìn vào số liệu thống kê thì có thể thấy ông thường thắng đậm ở đầu cơ cổ phiếu trong khi thường thua đậm ở đầu cơ tiền tệ. Mà thua lại là chuyện chẳng có gì lạ trong thế giới đầu cơ.

Sử sách còn ghi lại hai vụ đầu cơ thất bại lớn nhất của ông. Lần thứ nhất vào năm 1924, ông cho rằng Đảng Tự do Anh sẽ thắng cử và Đảng Bảo thủ sẽ thua. Khi đó, vấn đề đặt ra cho nước Anh là có trở lại chế độ bản vị vàng hay không. Nếu Đảng Tự do thắng cử sẽ không thi hành chính sách trở lại chế độ bản vị vàng như ông khuyến nghị, khi đó tỷ giá đồng Bảng Anh sẽ giảm. Nhưng Đảng Bảo thủ lại thắng cử, thực hiện ngay việc trở lại chế độ bản vị vàng và tỷ giá đồng Bảng Anh tăng cao. Về phương diện chính sách kinh tế, quan điểm của Keynes rất đúng, nhưng ông lại không thạo việc đoán biết quyết định của cử tri.

Lần thứ hai vào năm 1937-1938, John Maynard Keynes đã đánh giá sai mức độ và thời gian suy thoái kinh tế ở Mỹ nên đã thua lỗ ở Phố Wall. Không phải lương bổng của quan chức chính phủ Anh mà đầu cơ đã giúp John Maynard Keynes từ có vài đồng trong túi trở thành triệu phú. Khi mất năm 1946, Keynes để lại gia sản cá nhân gần 500.000 Bảng Anh (tương đương hơn 10 triệu EURO bây giờ), một điền trang rộng ở gần London và cả một Nhà hát nhỏ ở Cambridge tặng vợ. Thận trọng và theo mách bảo của bản năng được Keynes coi là bí quyết thành công của mình trong các phi vụ đầu cơ. Ẩn chứa đằng sau đó là một trạng thái tâm lý rất đặc biệt của nhà đầu cơ và đầu tư mà Keynes gọi là “tình yêu tiền bạc”. Theo Keynes, muốn thành công thì nhà đầu cơ phải nhìn nhận mối quan hệ giữa mình với cổ phiếu của mình như mối quan hệ giữa vợ và chồng, có nghĩa là phải có tầm nhìn dài hạn, không vội vàng hấp tấp, tình cảm và lý trí phải hài hòa.

Khác với Adam Smith tin vào khả năng điều tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường, Keynes nghi ngờ khả năng tự điều chỉnh và tự lành mạnh trở lại của thị trường. Keynes cho rằng, con người thích giữ tiền hơn là đầu tư vì lo ngại rủi ro, nhưng giữ tiền cũng là một dạng đầu cơ vào lãi suất, đầu tư giảm thì thất nghiệp sẽ tăng, thị trường tự nó không giải quyết được vấn đề này, vì thế phải cần đến vai trò của nhà nước. Nhà nước phải kích cầu, chấp nhận vay nợ và thâm hụt ngân sách để kích cầu. Thâm hụt ngân sách (deficit spending) là biệt hiệu học thuyết của Keynes và ngôn từ cửa miệng suốt một thời mà ngày nay lại được thực hiện ở không ít quốc gia. Keynes cho rằng, cá nhân có thể đầu cơ thì tại sao nhà nước lại không. Cá nhân đầu cơ để kiếm tiền, kết quả hoạt động đầu cơ của nhà nước hiện diện dưới những hình thức khác. Keynes cho rằng đầu cơ “vô hại như bong bóng trong dòng chảy kinh doanh liên tục” nhưng sẽ rất tai hại khi “kinh doanh trở thành bong bóng trong vòng xoáy của đầu cơ”.

Tại Hội nghị ở Bretton Woods, Keynes là trưởng đoàn đàm phán của Anh và đã đưa ra một kế hoạch tổng thể về trật tự tài chính và tiền tệ thế giới, kiến nghị sử dụng đồng tiền chủ đạo trên thế giới bao gồm một “rổ nhiều đồng tiền khác nhau” với tên gọi là Bancor, nhưng bị Mỹ lấn lướt và giành giật vai trò ấy cho đồng USD. 65 năm sau, nhân tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, Trung Quốc và Nga dẫn đầu một số nước lên tiếng đòi có đồng tiền chủ đạo mới trên thế giới thay thế đồng USD. John Maynard Keynes lại được nhắc tới, lại được trích dẫn và sử dụng như một chiếc “túi khôn” trong thời khốn khó.

Cả khi ấy, việc John Maynard Keynes đã từng là nhà đầu cơ thành đạt cũng không được nhắc tới. Đúng là Keynes nổi tiếng hơn nhờ học thuyết kinh tế của mình, nhưng học thuyết ấy thật ra là kết quả của quá trình đi từ thực tiễn đến lý luận qua các hoạt động đầu cơ của chính ông.

Đăng bởi Để lại phản hồi

ĐIỂM HÒA VỐN (Breakeven Point) KHI MUA, BÁN OPTION

Xét ví dụ.
Nếu mình nói mua Call option của cổ phiếu Facebook (mã là FB) tại strike price 80, giá đang giao dịch 82.5$, đáo hạn tuần thứ 3 của tháng 6/2015 với premium là 3.5$ thì sẽ viết là: Jun W3 2015. 80$. Call @3.5$
Điểm hòa vốn ở đây được hiểu là: Mức giá cổ phiếu gắn với quyền chọn các bạn mua phải giao dịch ở bao nhiêu thì giao dịch của các bạn sẽ hòa vốn.
Vẫn với ví dụ trên, như vậy thì diểm hòa vốn ở đâu?
Rất đơn giản, khi bạn mua Call Option tại Strike price 80$ – giá quyền Call là 3,5$ thì khi giá cổ phiếu FB lên tới 83.5$ là Call Option của bạn có giá trị thực = giá cổ phiếu đang giao dịch trên thị trường luôn. Đó chính là điểm hòa vốn.
Để dễ hình dung bạn nhìn biểu đồ dưới đây:

Như vậy với trường hợp bạn mua Call option thì

Break even poind = strike price + premium
hay
Điểm hòa vốn = mức giá thực thi quyền + giá của quyền chọn mua
Tương tự như vậy trong trường hợp bạn mua Put Option.
Nếu bạn mua Put Option ở tình huống như sau:
  1. Jun W3 2015. 80$. Put @3.3$
Lúc này nếu cổ phiếu FB giảm tới 76.7$/cp thì Put option của bạn sẽ có giá trị thực bằng giá cổ phiếu đang giao dịch trên thị trường. Đây cũng chính là mức giá hòa vốn của bạn.
Điểm hòa vốn khi mua Put Option
Với trường hợp mua Put Option thì:
Điểm hòa vốn = giá thực thi quyền – giá quyền put option
Chú ý: Trong thực tế thì chưa hẳn đã như chúng ta tính toán ở trên bởi vì còn có yếu tố thời gian tác động vào. Tuy nhiên như điểm hòa vốn theo cách tính ở trên là áp dụng với tình huống thời điểm cuối cùng mà quyền chọn của bạn còn hiệu lực.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Toán Ấn Độ cổ điển



Vào thế kỉ 12, Bhaskara lần đầu tiên đặt ra ý tưởng về giải tích vi phân, cùng với khái niệm vềđạo hàm, hệ số vi phân và phép lấy vi phân. Ông cũng đã chứng minh định lý Rolle (một trường hợp đặc biệt của định lý giá trị trung bình), nghiên cứu phương trình Pell, và xem xét đạo hàm của hàm sin. Từ thế kỉ 14, Madhava và các nhà toán học khác của Trường Kerala, phát triển thêm các ý tưởng của ông. Họ đã phát triển các khái niệm về thống kê toán học và số dấu phẩy động, và khái niệm căn bản cho việc phát triển của >> >>Xem chi tiết














Đăng bởi Để lại phản hồi

Việt Nam coi kinh tế tư nhân là động lực phát triển

Tiếp Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) Philipp Rosler, chiều 25/4, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, Việt Nam luôn coi kinh tế tư nhân là động lực của sự phát triển.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Giám đốc điều hành WEF Philipp Rosler
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cảm ơn WEF và cá nhân ông Philipp Rosler đã luôn hỗ trợ Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội.

Thủ tướng cho biết, Việt Nam luôn coi kinh tế tư nhân là động lực của sự phát triển và tạo điều kiện phát huy vai trò của thành phần kinh tế quan trọng này.
Đánh giá cao các hoạt động của WEF, Thủ tướng trân trọng cảm ơn lời mời tham dự WEF – ASEAN sẽ diễn ra vào tháng 6/2016 của ông Philipp Rosler và cho biết sẽ giao Bộ Ngoại giao Việt Nam thu xếp.
Nhấn mạnh đến ý nghĩa của hội nghị WEF Mekong tại Việt Nam năm 2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị ông Philipp Rosler phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao Việt Nam để góp phần tổ chức thành công hội nghị quy mô lớn này.
 
Phát biểu tại buổi tiếp, Giám đốc điều hành WEF Philipp Rosler tin tưởng dưới sự điều hành của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, khối doanh nghiệp tư nhân sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với tiến trình phát triển nền kinh tế Việt Nam.
Ông Philipp Rosler khẳng định WEF luôn mong muốn và sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ Việt Nam trong thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội và trân trọng mời Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tham dự hội nghị WEF – ASEAN và có phát biểu đóng góp vào việc hoạnh định lộ trình phát triển kinh tế khu vực và thế giới.
Theo Báo Điện tử Chính phủ
Đăng bởi Để lại phản hồi

Doanh nghiệp còn mơ hồ về thương hiệu quốc gia

Tại Diễn đàn thương hiệu tổ chức ngày 20-4 tại Hà Nội, ông Nguyễn Quốc Thịnh, Bộ môn Quản trị thương hiệu, Trường Đại học Thương mại cho biết, chỉ có 1/147 doanh nghiệp khi được hỏi hiểu đúng về chương trình thương hiệu quốc gia.

Nhiều doanh nghiệp có suy nghĩ, chương trình thương hiệu quốc gia là một giải thưởng. Ảnh internet.
Giải thưởng?

Xây dựng thương hiệu thực chất là tạo dựng ấn tượng, những quan niệm, nhận định và thái độ tích cực của công chúng và các bên liên quan đối với sản phẩm, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và địa phương.

“Đây là vấn đề mà nước nào cũng quan tâm”, đưa ra nhận định này ông Đỗ Kim Lang, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) cho rằng: Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ. Từ năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình thương hiệu quốc giá với mục đích xây dựng hình ảnh Việt Nam là một quốc gia có uy tín về hàng hóa và dịch vụ đa dạng phong phú với chất lượng cao; nâng cao sức cạnh tranh cho thương hiệu sản phẩm Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế…

Tuy nhiên, những thông tin về cuộc khảo sát với các doanh nghiệp được Nguyễn Quốc Thịnh đưa ra tại diễn đàn thương hiệu ngày 20-4 đáng để suy ngẫm.

Ông Thịnh cho hay: “Với chương trình thương hiệu quốc gia, theo khảo sát chưa đầy đủ của chúng tôi trong 3 tháng nay với đối tượng là lãnh đạo doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong 147 phiếu thu được, chỉ có 9 người biết đến chương trình thương hiệu quốc gia. Trong 9 người này, chỉ có 1 người hiểu đúng, 8 người còn lại cho rằng đây là chương trình trao giải thưởng. Đáng chú ý, không có doanh nghiệp nào biết về thủ tục tham gia chương trình như thế nào”.

Cũng theo ông Thịnh, chương trình thương hiệu quốc gia với doanh nghiệp có nhiều vấn đề đáng bàn, trong đó có việc lựa chọn doanh nghiệp tham gia chương trình. Theo đó, chương trình này lựa chọn các thương hiệu của doanh nghiệp tham gia với các tiêu chí như thương hiệu sản phẩm/ doanh nghiệp, hướng đến xuất khẩu và tự nguyện tham gia.

Thực tế chương trình thương hiệu quốc gia không phải là 1 giải thưởng thương hiệu. Việc lựa chọn các thương hiệu sản phẩm đạt thương hiệu quốc gia chỉ là sự khởi đầu để các doanh nghiệp trở thành đối tác của chương trình. Nhà nước không làm thay cho doanh nghiệp nhưng sẽ đứng ra bảo trợ cho các thương hiệu sản phẩm có chất lượng và uy tín kinh doanh, nhằm giúp doanh nghiệp Việt Nam tạo chỗ đứng vững vàng trên thị trường trong nước, có điều kiện phát triển thương hiệu của mình ra thế giới.

Nước ngoài chỉ biết đến 2 thương hiệu sản phẩm của Việt Nam

Có 3 cấp độ trong việc xây dựng thương hiệu quốc gia. Cụ thể, đối với doanh nghiệp là bàn đến thương hiệu doanh nghiệp, sản phẩm, tập đoàn. Cấp độ cao hơn là thương hiệu địa phương khi bàn đến thương hiệu của làng nghề, tập thể gắn với chỉ dẫn địa lý, thương hiệu điểm đến du lịch tại địa phương và thương hiệu chính địa phương.

Cấp độ cao nhất là thương hiệu quốc gia với 3 vấn đề chính là thương hiệu ngành hành, nhóm hàng. Hiện Cục Xúc tiến thương mại đang tập trung xây dựng thương hiệu cho nhóm hàng, vùng miền và thương hiệu quốc gia.

Thế nhưng, tại thị trường nước ngoài, khi hỏi người tiêu dùng có biết về sản phẩm của Việt Nam không, họ đều lắc đầu. “Người nước ngoài chủ yếu biết đến 2 thứ của Việt Nam là Phở 24 và Vinacafe còn bao nhiêu sản phẩm xuất khẩu khác người ta ít biết đến. Đây là điều đáng buồn”, ông Thịnh cho hay.

Thêm nữa, đối với các sản phẩm đang xuất khẩu và bày bán tại các siêu thị nước ngoài như cá tra, cá ba sa không ai biết đây là hàng do doanh nghiệp Việt Nam nào xuất khẩu nên ở trên tủ kính bày bán sản phẩm chỉ ghi là sản phẩm của Việt Nam.

Do vậy, cần phải bảo vệ thương hiệu từ nội bộ, tức là kiểm soát từ trước khi xuất khẩu đến lúc xuất khẩu. Nếu trong số 70 doanh nghiệp có 1 doanh nghiệp làm ăn chụp giật ngay lập tức họ cho rằng tất cả doanh nghiệp Việt Nam làm ăn chụp giật. Không thể vì 1 doanh nghiệp mà làm hỏng hình ảnh của một đất nước.

Theo ông Thịnh, thương hiệu ngành hàng, doanh nghiệp đều góp nhần nhất định vào thành công của thương hiệu quốc gia song chúng ta phải có chiến lược về: Ý tưởng, định vị; lựa chọn mô hình thương hiệu; xác lập cấp độ xây dựng thương hiệu; truyền thông thương hiệu; bảo vệ thương hiệu.

Hiện có 2 xu hướng chính trong xây dựng thương hiệu quốc gia là: Xây dựng thương hiệu quốc gia là một tập thể và xây dựng thương hiệu quốc gia như thương hiệu chứng nhận.

“Xây dựng thương hiệu quốc gia như một chứng nhận là hướng đi của một số nước láng giềng của Việt Nam như Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia. Theo tôi, cách đi này là phù hợp khi Việt Nam mới gia nhập kinh tế thị trường chưa lâu, doanh nghiệp còn nhiều vấn đề như khả năng bao quát thị trường còn hạn chế”, ông Thịnh nêu ý kiến.

Tất nhiên, mục tiêu của chương trình thương hiệu quốc gia là xây dựng hình ảnh Việt Nam là một quốc gia có uy tín về hàng hóa và dịch vụ, xây dựng một Việt Nam tốt đẹp hơn trong mắt bạn bè thế giới nhưng muốn đạt được mục tiêu này cần có nhiều thời gian. Nhật Bản phải mất 50 năm, Hàn Quốc đi trước Việt Nam 30 năm về xây dựng thương hiệu, trong khi Việt Nam mới có 13 năm (tính từ khi Thủ tướng phê duyệt chương trình thương hiệu quốc gia).

Theo ý kiến của vị này, để xây dựng thương hiệu quốc gia cần phải hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực xây dựng thương hiệu thông qua các chương trình đào tạo, truyền thông; bảo chứng cho các thương hiệu của doanh nghiệp (chứng nhận uy tín, chất lượng cho các thương hiệu tham gia chương trình thương hiệu quốc gia, hỗ trợ xâm nhập thị trường…). Đặc biệt, cần tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi cung ứng và cơ hội thị trường bằng cách tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp lớn.

Theo baohaiquan