Đăng bởi Để lại phản hồi

Chỉ báo Donchian channel


Định nghĩa của “Donchian Channels”

Một kênh Donchian là một chỉ số được hình thành bởi các dải trên và dưới xung quanh thanh giá. Dải trên đánh dấu giá cao nhất của một vấn đề cho n chu kỳ, còn dải dưới đánh dấu mức giá thấp nhất cho n chu kì. Vùng giữa các dải trên và dải dưới đại diện cho Kênh Donchian. Richard Donchian, một nhà kinh doanh hợp đồng tương lai đã phát triển chỉ số này vào giữa thế kỷ hai mươi để giúp ông xác định xu hướng.

GIẢI THÍCH ‘Donchian Channels’

Trong ví dụ này, Kênh Donchian là vùng được bao quanh bởi đường màu xanh lá cây phía trên và đường đỏ dưới, cả hai đều sử dụng 20 ngày làm khoảng thời gian xây dựng ban nhạc. Khi giá di chuyển đến mức cao nhất trong 20 ngày qua hoặc hơn, thanh giá đẩy “đường màu xanh lá cây cao hơn và khi giá giảm xuống mức thấp nhất trong 20 ngày hoặc nhiều hơn, thanh giá sẽ” đẩy “đường đỏ thấp hơn. Khi giá giảm 20 ngày từ mức cao, đường màu xanh lá cây sẽ nằm ngang và sau đó bắt đầu giảm sau 20 ngày. Ngược lại, khi giá tăng từ mức thấp trong 20 ngày, đường màu đỏ sẽ nằm ngang trong 20 ngày và sau đó bắt đầu tăng.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chỉ báo Volatility Ratio

Chỉ số tỷ lệ biến động được thiết kế như một thước đo về phạm vi giá cả. Nó được sử dụng bởi các thương nhân và các nhà phân tích để đánh dấu các mức giá hiện tại và để theo dõi các tín hiệu giao dịch được tạo ra bởi breakouts từ phạm vi giá. Chỉ số này được tính toán dựa trên phạm vi giá đúng thực và phạm vi giá đúng thực tế. Trên biểu đồ, tỷ lệ biến động thường được vẽ như một đường thẳng và xuất hiện trong một cửa sổ thứ hai bên dưới cửa sổ biểu đồ chính.

Tỷ lệ biến động được tính như sau:

Phạm vi True True = Maximum (trung bình của ngày hôm nay cao và ngày hôm qua đóng cửa) – Tối thiểu (trung bình của ngày hôm nay thấp và ngày hôm qua đóng cửa)

Phạm vi True trước đó trên X số ngày = HIGH (trung bình giá cao mỗi ngày theo thời gian X) – LOW (trung bình giá thấp mỗi ngày theo khoảng thời gian X)

Tỷ lệ biến động = Phạm vi True hiện tại / Phạm vi True Trước đó trên X số ngày

Các giá trị mặc định, phổ biến nhất được sử dụng cho X khi tính phạm vi đúng trước đó là 10 hoặc 14.

Tỷ lệ biến động được xác định cho các khoảng thời gian thương nhân khi giá đã vượt quá phạm vi giá gần đây nhất đến mức đủ lớn để tạo thành một sự bứt phá. Các bài đọc chính xác cho thấy sự bứt phá thường được các nhà giao dịch thích nghi với cổ phiếu hay thị trường cụ thể mà họ đang kinh doanh, nhưng một cách đọc thông dụng là 0.5. Mức này đại diện cho điểm mà ở đó phạm vi đúng thật sự gấp hai lần phạm vi đúng trước đó. Để xác nhận tín hiệu đột phá được đưa ra bởi chỉ số tỷ lệ biến động, thương nhân thường sử dụng các chỉ số kỹ thuật khác như khối lượng , do khối lượng giao dịch thường tăng mạnh trong suốt thời kỳ bùng nổ thị trường.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Nhập môn phân tích kỹ thuật


Phân tích kỹ thuật hay còn gọi là (charting – nghiên cứu biểu đồ) là việc nghiên cứu lịch sử giao dịch, về giá và khối lượng giao dịch theo thời gian của các loại chứng khoán.

Mục đích của phân tích kỹ thuật không phải là để xác định giá trị nội tại của chứng khoán mà nhằm dự đoán giá tương lai. Một ví dụ minh họa dễ hiểu là, giả sử thị trường chứng khoán là một cái siêu thị, trong siêu thị đó, các nhà phân tích cơ bản sẽ đi vào từng gian hàng, nghiên cứu từng sản phẩm sau đó sẽ quyết định có mua hay không. Ngược lại, một nhà phân tích kỹ thuật, sẽ ngồi ngoài sảnh và quan sát người ta vào ra các gian hàng. Bất kể giá trị nội tại của các sản phẩm trong các cửa hàng như thế nào đi chăng nữa, quyết định của nhà đầu tư sẽ luôn dựa trên đặc điểm hoặc hành vi của những người đi vào mỗi gian hàng.

Các nhà phân tích kỹ thuật tinh rằng diễn biến trước đây của cổ phiếu nói riêng và toàn thị trường nói chung là một chỉ dẫn để đánh giá diễn biến tương lai. Niềm tin này dựa trên quan điểm cho rằng, trên thị trường chứng khoán, lịch sử hay được lặp lại. Họ tin rằng các nhà đầu tư, phần đông sẽ lặp lại hành vi của các nhà đầu tư đi trước. Có những câu nói kiểu như: “Ai chẳng muốn mua cổ phiếu của Microsoft”, “Nếu cổ phiếu này lên $50 một lần nữa, tôi sẽ mua nó”, “Công nghệ của hãng này mang tính cách mạng, do đó cổ phiếu của nó nhất định sẽ tăng vọt”, đó là những ví dụ về sự lặp lại trong thái độ của nhà đầu tư. Đối với các nhà phân tích kỹ thuật, đặc tính rất con người của thị trường đôi khi thật là vô lý, nhưng nó vẫn luôn hiện hữu. Thái độ ứng xử của các nhà đầu tư thường lặp nhau nên hành vi của họ cũng thường lặp nhau. Do đó, các nhà phân tích tin rằng, giá chứng khoán sẽ diễn biến theo một biểu đồ với các đặc trưng có thể dự đoán được, và đó là cơ sở đển nắm bắt giá tương lai của chứng khoán.

Vì không quan tâm đến giá trị nội tại nên, các phân tích kỹ thuật cũng không quan tâm đến lý do tại sao giá lại thay đổi (có thể do thu nhập kém, môi trường kinh doanh không lành mạnh, quản lý tồi, hay các nguyên nhân căn bản khác) mà chỉ quan tâm đến việc liệu giá sẽ đi theo khuynh hướng này hay khuynh hướng khác. Các nhà phân tích kỹ thuật luôn cho rằng mình có thể tạo ra lợi nhuận nhờ việc biết “theo xu thế”. Hay nói cách khác, nếu một cổ phiếu cụ thể nào đó tăng giá đều đều (khuynh hướng lên) thì nhà phân tích kỹ thuật chắc chắn sẽ tìm cách mua nó.

Đăng bởi Để lại phản hồi

HỖ TRỢ VÀ KHÁNG CỰ

Hỗ trợ và Đối kháng là những đường minh họa sự giằng co giữa người mua (bull) và người bán (bear).
Các đường hỗ trợ báo hiệu giá mà phần lớn nhà đầu tư tin rằng sẽ lên cao hơn. Khi giá giảm đến đường hỗ trợ và giá rẻ hơn, người mua sẽ muốn mua hơn và người bán ít muốn bán hơn.
Các đường đối kháng báo hiệu giá mà phần lớn nhà đầu tư tin rằng sẽ xuống thấp hơn. Khi giá di chuyển đến đường đối kháng và giá cao hơn, người bán sẽ muốn mua hơn và người mua ít muốn bán hơn.

Với điều kiện là giá của chứng khoán di chuyển giữa đường hỗ trợ và đối kháng, xu hướng có thể sẽ tiếp tục. Một sự đột phá ra khỏi đường hỗ trợ hoặc đối kháng có thể là dấu hiệu của:
Một xu hướng tăng tốc
Một xu hướng đảo chiều

Khi đường đối kháng bị phá vỡ, vai trò của nó bị đảo ngược và nó trở thành đường hỗ trợ. Tương tự, khi một đường hỗ trợ bị phá vỡ, đường này sẽ thành đường đối kháng.

Bạn sẽ thấy trong biểu đồ bên dưới thể hiện sự tăng tốc trong xu hướng của cặp tiền tệ AUD/JPY khi một đường đối kháng trở thành đường hỗ trợ.

Phân tích đường hỗ trợ và đối kháng được các nhà kinh doanh kỹ thuật dùng để ra các quyết định kinh doanh và xác định thời điểm một xu hướng tăng tốc hay đảo chiều. Lưu ý các đường quan trọng này có thể ảnh hưởng đến cách mà bạn kinh doanh và giúp bạn cải thiện đáng kể hoạt động kinh doanh của mình.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Đường MACD


MACD (Sự Đồng quy – Phân kỳ của Đường Trung bình Di động)

Chỉ báo Đồng quy – Phân kỳ của Đường Trung bình Di động (MACD) được sử dụng
để quyết định các xu hướng trong xung lượng.


  • Tính toán
    Nó được tính bằng cách trừ đường trung bình di động lũy thừa (EMA) dài
    hơn cho một đường trung bình di động lũy thừa ngắn hơn. Giá trị phổ biến
    nhất dùng để tính MACD là đường trung bình di động lũy thừa 12 ngày và
    26 ngày.
    Dựa vào sự chênh lệch này, một đường trung bình di động
    của 9 giai đoạn sẽ được tính, và được đặt tên là “đường dấu hiệu”.
    MACD = [đường
    trung bình di động 12-ngày – đường trung bình di động 26-ngày ] > Chỉ
    báo Gia quyền Lũy thừa
    Đường dấu hiệu = Đường trung bình di động (MACD)
    > Chỉ báo Gia quyền Trung bình
  • Diễn giải
    Do sự bôi trơn lũy thừa, chỉ báo MACD sẽ dò các thay đổi về giá gần nhất
    nhanh hơn là đường dấu hiệu. Do đó,
    Khi MACD xuyên qua ĐƯỜNG DẤU
    HIỆU: đường trung bình di động nhanh hơn (12-ngày) sẽ cao hơn tốc độ
    thay đổi đối với đường trung bình di động chậm hơn (26-ngày). Đây là tín
    hiệu giá tăng đặc trưng, và cho thấy khả năng giá có thể có xung lượng
    đi lên.
    Ngược lại, khi chỉ báo MACD nằm dưới ĐƯỜNG DẤU
    HIỆU: đó là tín hiệu giá giảm, có thể dự báo một sự đảo chiều sắp xảy
    ra.

  • Ví dụ về một MACD
    Bạn có thể thấy từ biểu đồ bên dưới ví dụ
    về một MACD. Chỉ báo MACD được thể hiện bới màu xanh lá và Đường Dấu
    hiệu màu Xanh dương.
Đăng bởi Để lại phản hồi

CCI – COMMODITY CHANNEL INDEX INDICATORS

Là chỉ số giao động được sáng lập bởi ông Donald Lambert. Nó giao động giữa 2 vùng quá mua (overbought) và quá bán (oversold). Điều kiện làm việc tốt nhất của chỉ số này là thị trường trong trạng thái ít biến động, ảm đạm (sideways market), nó không làm việc tốt khi thị trường đang trong 1 xu hướng (trending market). Bởi thế nó phải được sử dụng kết hợp với các chỉ số khác, tốt nhất là dùng kết hợp với các chỉ số định hướng Directional Movement Index (DMI). Có thể lọai trừ những sai lầm khi bạn nhận được tín hiệu bán ở vùng quá mua (overbought) trong xu thế tăng giá (bull market).

Công thức tính tóan:

1. Calculate the average price of the period

i. Average Px = (high + Low + Close) / 3

2. Calculate the Moving Average over ””n”” periods

i. MA = (Close 1 + Close 2 + Close 3 = … +

Close n) / n

3. Calculate the mean deviation over ””n”” periods

i. Mean Deviation = ([MA last – Avg Px 1 [+] MA

last – Avg Px 2 [ + …+ ] MA last – Avg Px n]) / n

4. CCI = (Average Price – MA) / (0.015* Mean Deviation)

Lambert đề xuất sử dụng về 1/3 chu kỳ thông thường của thị trường nó giống như là 1 giới hạn tốt nhất cho CCI. Nếu chu kỳ bình thường của thị trường là 90 ngày thì nên sử dụng thông số n=30 ngày và nên sử dụng đồ thị ngày.

CCI về bản chất là đo lường khỏang cách bao xa từ đường giá đến đường trung bình của giá (Moving Average) và đo chúng di chuyển nhanh như thế nào. Nếu đường giá nằm bên phải đường MA (Moving Average) thì giá trị của CCI sẽ là 0. Hằng số (0.015) bị hạn chế khỏang 80% thời gian nằm trong khỏang từ -100 đến +100.

Cách sử dụng:

Có nhiều chỉ dẫn để sử dụng chỉ số này nhưng có 2 cách thường dùng nhất là:

1. Tín hiệu mua và bán thật sự: Khi chỉ số CCI trên +100 và thị trường là quá mua (overbought) thì đó là cơ hội bán của chúng ta. Và khi thị trường là quá bán (oversold) với chỉ số CCI dưới -100 thì đó là cơ hội mua của chúng ta.

2. Phân kỳ (Divergence Indicator): Nếu đường giá tăng mà chỉ số CCI giảm thì giá sẽ thường đổi chiều sau đó.

Nó thật sự là chỉ số mạnh khi được kết hợp với các chỉ số về đường hướng (directional indicator). Nó sẽ cho tín hiệu sai khi xu hướng của thị trường chống lại cái tín hiệu đó. Ngược lại nó rất chính xác khi có tín hiệu mua trong thị trường tăng (bull market) và tín hiệu bán khi thị trường giảm (bear market).

Có rất nhiều cách sử dụng chỉ báo này. Nó có thể sử dụng để xác nhận điểm thóat (breakout) trong phạm vi gần của xu hướng. Nó còn được sử dụng để đo gia tốc của thị trường.

Ví dụ dưới đây chỉ báo CCI cho tín hiệu bán khi > +100 và tín hiệu mua khi <-100

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chỉ báo Parabolic, Stop-and-Reverse (SAR)


Hệ thống Parabolic, Stop-and-Reverse (SAR)

Hệ thống parabolic SAR là một công cụ hiệu quả của nhà đầu tư và lần đầu tiên được tạo ra bởi J. Welles Wilder để bù cho những thất bại của các hệ thống dò xu hướng khác.

Mô tả

Hệ thống Parabolic SAR là một hệ thống kinh doanh tính

toán các lệnh trailing stop-loss trong một thị  trường tiềm năng. Biểu đồ củacác điểm này dò theo những đợt vận động của giá dưới hình thức một đường gạch chấm có khuynh hướng theo hình parabol.

Diễn giải

Khi parabol đi bên dưới giá, nó cho tín hiệu mua vào.

Khi parabol xuất hiện bên trên giá, nó cho tín hiệu bán ra.

Các chấm “stop-loss” là các mức đặt ra dành cho lệnh trailing stop-loss kéo dàiđược đề xuất cho vị thế. 


Ở xu hướng giá tăng, một vị thế trường nên được thiết lập với một trailing stop di  chuyển lên mỗi ngày cho đến khi nó được kích hoạt bởi việc giá giảm xuống đến mức dừng.

 Ở xu hướng giá giảm, một vị thế ngắn có thể được  thiết lập với một trailing stop di chuyển xuống mỗi ngày cho đến khi được kích hoạt bởi giá tăng lên mức dừng.

Hệ thống parabol được xem như hoạt động tốt nhất trong các giai đoạn  tiềm năng. Nó giúp các nhà kinh doanh sớm nắm bắt các xu hướng mới có  liên quan. 


Nếu một xu hướng mới không xảy ra, parabol sẽ nhanh chóng chuyển từ bên giá này qua bên giá khác, do đó, tạo ra tín hiệu dừng và đảo chiều, báo hiệu thời điểm nhà kinh doanh nên đóng vị thế của họ hoặc mở một vị thế ngược lại khi sự thay đổi này xảy ra.

Ví dụ về một trường hợp parabol SAR

Bạn có thể thấy từ biểu

đồ bên dưới Hệ thống Parabol màu xanh lá được áp dụng cho cặp tiền

tệ USDJPY.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Đồ thị (Chart)

Phân tích đồ thị: (Chart Analysis)
Những vấn đề cơ bản:



Đồ thị (Chart)
Đồ thị là một chuỗi giá được vẽ theo một khung thời gian cụ thể, Với trục tung (trục y) là giá và trục hoành (trục x- trục ngang) là thời gian. Các nhà PTKT sử dụng đồ thị để phân tích, dự báo sự di chuyển của giá chứng khoán trong tương lai. Cụm từ “chứng khoán” có thể được mở rộng cho bất kỳ công cụ tài chính nào như cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa, công cụ phái sinh hoặc chỉ số thị trường với dữ liệu về giá trong một khoảng thời gian có thể tạo thành đồ thị để phân tích.
Làm thế nào để lựa chọn khung thời gian:
Khung thời gian được sử dụng để tạo thành một biểu đồ dựa trên việc nén dữ liệu: dữ liệu trong ngày (intraday), hàng ngày (daily), hàng tuần (weekly), hàng tháng (monthly), quý (quarterly) hoặc hàng năm (annual). Dự liệu càng nén, càng ít chi tiết được hiển thị.

Dữ liệu hàng ngày được tạo thành từ các dữ liệu trong ngày đã được nén để hiển thị mỗi ngày như một điểm dữ liệu duy nhất. Dữ liệu hàng tuần được nén từ dữ liệu ngày để hiển thị mỗi tuần như một điểm dữ liệu duy nhất. Nếu đồ thị hiện thị 100 điểm dữ liệu, đồ thị tuần sẽ có 100 tuần (gần 2 năm). Một đồ thị ngày sẽ hiển thị 100 ngày (gần 5 tháng). Theo đó, có khoảng 20 ngày giao dịch trong một tháng, 252 ngày giao dịch trong một năm.
Các nhà đầu cơ (trader) có thể tập trung nhiều hơn trên các đồ thị ngày và trong ngày để dự báo giá trong ngắn hạn. Tuy nhiên các khung thời gian ngắn thường không ổn định và có nhiều tín hiệu nhiễu. Các nhà đầu tư (Investor) thường tập trung nhiều hơn trên các đồ thị hàng tuần và hàng tháng để phát hiện ra các xu hướng dài hạn và dự báo các xu hướng dài hạn. Trong khi đó, một số khác sẽ sử dụng một cách kết hợp các đồ thị ngắn và dài hạn. Đồ thị dài hạn để xem xét một bức tranh tổng thể với một viễn cảnh rộng lớn của những hành động giá trong lịch sử. Sau khi 1 bức tranh chung được phân tích, một đồ thị theo ngày được sử dụng để phóng to một giai đoạn vài tháng.
Đồ thị đươc thành lập như thế nào?
Có nhiều phương pháp và dạng đồ thị, nhưng phổ biến hơn cả là dạng đường (line), dạng thanh (bar), dạng nến (candlestick), dạng điểm và hình  (point & figure).
Line Chart:
Một số NĐT và cả đầu cơ xem xét mức giá đóng cửa là quan trọng hơn giá mở cửa, giá cao, hoặc thấp. Chỉ chú ý vào giá đóng cửa, các dao động trong ngày có thể bị lờ đi. Đồ thị Line cũng được sử dụng khi giá mở cửa, giá cao, giá thấp không có sẵn. Thỉnh thoảng dữ liệu đóng cửa chỉ có sẵn co một số chỉ báo cố định, hoặc chứng khoán giao dịch thưa thớt trong ngày.

Bar Chart:
Có lẽ phương pháp đồ thị phổ biến nhất là đồ thị dạng thanh. Các mức giá cao, thấp, mở cửa và đóng cửa trong một giai đoạn được yêu cầu để tạo thành một thanh đồ thị. Các mức cao và thấp được biểu diễn bởi mức đỉnh và đáy của thanh dọc, các mức đóng cửa, mở cửa là các thanh ngắn cắt qua bên trái và bên phải thanh dọc. Trên đồ thị ngày, mỗi thanh đại diện cho các mức cao, thấp, mở cửa và đóng cửa của một ngày cụ thể. Trên đồ thị tuần, mỗi thanh sẽ dựa trên giá mở cửa ngày thứ 2, đóng cửa ngày thứ 6 và các mức cao thấp trong tuần đó.

Candlestick Chart:
Được khai sinh ở Nhật Bản hơn 300 năm về trước, đồ thị nến trở nên phổ biến trong thời gian gần đây. Đối với một biểu đồ nến, giá mở cửa, cao, thấp và đóng cửa đều được yêu cầu. Một cây nến theo ngày dựa trên giá mở cửa, phạm vi cao thấp giá đóng cửa trong ngày.  Một nến hàng tuần được dựa trên giá mở cửa thứ 2, cao thấp trong tuần và đóng cửa cuối tuần.

Nhiều NĐT và đầu cơ tin rằng biểu đồ nến thì dễ đọc, đặt biệt là mối quan hệ giữa đóng và mở cửa. Nến trắng (rỗng) nến hình thành khi giá đóng cửa cao hơn mở cửa. Nến đen (rắn) hình thành khi đóng cửa thấp hơn mở cửa. Phần trắng, hoặc đen được hình thành từ mức giá mở cửa và đóng cửa gọi là thân nến, trong khi các dòng hay các bóng nến là các mức cao và thấp.
Point & Figure Chart:
Point & Figure Chart chỉ dựa trên sự biến động của giá và không cần nhiều thời gian để suy xét, trục x không mở rộng đồng đều trên đồ thị. Point & Figure khá đơn giản và dễ dàng xác định các mức chống đỡ, kháng cự, và điểm phá vỡ.

Thang đo (Price Scaling):
Có 2 phương pháp để hiển thị tỷ lệ của giá trên trục số y: số học (arithmetic) và logarit (logarithmic):
Thang đo số học hiển thị 10 điểm (hoặc đơn vị giá cả) cùng một khoảng cách mà không phân biệt các mức giá. Mỗi đơn vị đo lường là như nhau trong toàn bộ khung giá. Nếu chứng khoán tăng từ 10 đến 80 trong khoảng thời gian 6 tháng, từ 10 tới 20 cũng sẽ có khoảng cách giống như từ 70 đến 80 trên trục số.
Thang đo Logarit đo lượng sự dịch chuyển của  giá theo tỷ trọng. Mức tăng từ 10 đến 20 tương ứng mức tăng 100%. Mức tăng từ 20 đến 40 cũng là 100% và mức 40 đến 80 cũng là 100%. Cả 3 sự mức biến động trên đều có cũng một khoảng cách trên trục số. Tiy nhiên, các đồ thị sẽ hiển thị ở dạng bán logarit (Semi-log)
Những điểm mạnh quan trọng của mỗi thang đo:
        Thang đo số học rất hữu ích khi phạm vi giá được giới hạn trong một phạm vi tương đối chặt chẽ.
        Thang đo số học hữu ích cho các đồ thị trong ngắn hạn và đầu cơ. Giá dịch chuyển (đặt biệt là cổ phiếu) được thể hiện bằng đơn vị tiền.
        Thang đo bán-logarit hữu ích khi giá có sự dịch chuyển đáng kể, có thể là trong một khoảng thời gian ngắn hoặc kéo dài.
        Đường xu hướng có khuynh hướng phù hợp với các mức đáy tốt hơn trên đồ thị semi-log.
        Thang đo semi-log cũng hữu ích cho đồ thị dài hạn để đo lường phần trăm sự dịch chuyển qua một giai đoạn dài. Sự dịch chuyển lớn được đặt trong một viễn cảnh.
Kết luận:
Mặc dù có nhiều kỹ thuật phân tích đồ thị khác nhau và mỗi phương pháp không nhất thiết phải tốt hơn các khác. Dữ liệu có thể là giống nhau nhưng mỗi phương pháp sẽ cung cấp một cách giải thích riêng độc đáo với những ưu điểm và nhược điểm của nó. Một điểm phá vỡ sẽ không xảy ra trên đồ thị point & figure, nhưng nó lại xuất hiện trên đồ thị nến. Tín hiệu hiển thị trên đồ thị nến cũng có thể không xuất hiện trên đồ thị thanh. Vậy lựa chọn kiểu đồ thị nào cho giá chứng khoán hiển thị? Có thể là đồ thị dạng thanh (bar) hay dạng nến (candlestick), với thang đo số học hay bán logarit, các yếu tố đó không phải là điều quan trọng nhất. Xét cho cùng,dữ liệu là như nhau và hành động giá đó là hành động giá. Việc lựa chọn phương pháp biểu đồ nào sẽ phụ thuộc vào sở thích cá nhân, là đầu cơ hay đầu tư. Một khi bạn đã lựa chọn một phương pháp đồ thị cụ thể, tốt nhất là nên gắn bó và tìm hiểu cách để đọc tín hiệu tốt nhất. Chuyển đổi qua lại có thể gây nhầm lẫn và làm mất khả năng tập trung phân tích của bạn. Lỗi phân tích ít khi gây ra bởi biểu đồ.
Chìa khóa để phân tích đồ thị thành công là tận tụy, tập trung và nhất quán:
        Cống hiến: tìm hiểu các vấn đề cơ bản của phân tích biểu đồ, cập nhật kiến thức của bạn thường xuyên và tiếp tục phát triển.
        Tập trung: hạn chế số lượng các đồ thị, các chỉ báo và phương pháo bạn sử dụng. Tìm hiểu cách sử dụng và sử dụng như thế nào là tốt nhất.
        Nhất quán:duy trì đồ thị của bạn một cách đều đặn và nghiên cứu chúng thường xuyên (hàng ngày nếu có thể).
Đăng bởi Để lại phản hồi

CHỈ BÁO WILLIAMS %R

WILLIAMS %R
Tổng quan
Williams’ %R ( được đọc là “Phần trăm R”) là một chỉ báo đo lường các điều kiện mua quá nhiều và bán quá nhiều. Williams’ %R được phát triển bởi Larry Williams.
Công thức tính Williams %R:





1. Bước đầu tiên là xác định số kỳ (kỳ %R) được dùng khi tính toán. Số kỳ có thể nằm giữa 5 và 21 tùy theeo khung thời gian phân tích.


2. Tính %R, bằng cách so sánh giá đóng cửa gần nhất với biên độ dao động qua kỳ đã chọn:


HC = Giá cao nhất (High) cao nhất trong kỳ %R – Giá đóng cửa (Close) hôm nay


HL = Giá cao nhất (High) cao nhất trong kỳ %R – Giá thấp nhất (Low) thấp nhất trong kỳ %R


%R = HC / HL * -100


Công thức tính này tương tự như tính Stochastic %K, chỉ khác là CL (ở Stochastic %K) được thay bằng HC.


CL = Giá đóng cửa (Close) hôm nay – Giá thấp nhất (Low) thấp nhất trong kỳ %K


Giải thích

Cách giải thích của William’s %R  tương tự như với chỉ số dao động Stochastic ngoại trừ %R được vẽ ngược lại so với Stochastic và không được làm trơn như Stochastic.
Để mô tả chỉ báo Williams’ %R được vẽ ngược, nó thường được vẽ sử dụng các giá trị âm (ví dụ: -20%). Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu và thảo luận, có thể đơn giản lờ đi dấu âm.
Các giá trị trong khoảng 80 đến 100% cho biết rằng chứng khoán đang trong trạng thái bán quá nhiều trong khi các giá trị trong khoảng 0 đến 20% cho biết rằng chứng khoán đang trong trạng thái mua quá nhiều.
Như với tất cả các chỉ báo về mua quá nhiều/bán quá nhiều, tốt nhất là nên chờ tín hiệu thay đổi của giá chứng khoán trước khi tiến hành một giao dịch. Ví dụ, nếu một chỉ báo mua quá nhiều/ bán quá nhiều (như chỉ số dao động Stochastic hoặc Williams’%R) đang chỉ ra điều kiện mua quá nhiều, thì tốt nhất nên chờ giá chứng khoán giảm xuống trước khi thực hiện bán chứng khoán. (MACD là một chỉ báo tốt để xác định thay đổi của giá chứng khoán). Các chỉ báo mua quá nhiều và bán quá nhiều thường giữ các trạng thái này trong một khoảng thời gian dài vì giá chứng khoán sẽ tiếp tục đi lên hoặc đi xuống.
Một điểm thú vị của chỉ báo %R là khả năng đoán trước sự đảo chiều của giá chứng khoán. Chỉ báo phần lớn thường hình thành các đỉnh và đi xuống một vài ngày trước khi giá chứng khoán hình thành đỉnh và đi xuống. Tương tự, %R thường tạo ra các đáy và đảo chiều lên một vài ngày trước khi giá chứng khoán cũng đảo chiều đi lên.
Ví dụ
Đồ thị dưới đây cho thấy cổ phiếu HBC và Williams’ %R 14 ngày của nó. Mũi tên mua màu xanh được vẽ ra mỗi khi %R hình thành một đáy dưới 80% và mũi tên bán màu đỏ được vẽ ra khi %R hình thành đỉnh dưới 20. Bạn có thể thấy trong hầu hết các trường hợp tín hiệu mua xảy ra trước 1 đến 2 ngày khi giá hình thành đáy.
Đăng bởi Để lại phản hồi

CHỈ BÁO STOCHASTIC

– Chỉ báo Stochastic (Stoc) là chỉ số căn bản cho khuynh hướng của thị trường. Trong giai đọan tăng giá (bull market) thì chỉ số này đi lên, còn trong giai đọan giảm giá (bear market) thì chỉ số này đi xuống.




– Chỉ số này được cấu tạo bởi 2 đường: %K , %D và được tính tóan như sau:


%K = (giá hiện hành – giá thấp n) / (giá cao n – giá thấp n)
Với n là số phiên giao dịch trong giai đọan đang xét (mặc định thường dùng là 14)


%D = (%K x + %K x-1 + %K x-2) / 3
Là trung bình 3 phiên của %K, trong đó x là số phiên hiện hành.


– Có 2 dạng stochastic: đường nhanh (fast stochastic), đường chậm (low stochastic). Đường nhanh ảnh hưởng cực kỳ đến giá trong khi đó đường chậm chỉ đơn thuần là kết quả cân bằng của đường nhanh.


– Chì số stochastich được giới hạn từ 0 đến 100, nhưng phần lớn nó nằm quanh vị trí 20-80, nó phản ảnh các vùng quá bán (oversold) và vùng quá mua (oversbought). Đôi khi nó nằm ở những vùng 25-75 là những vùng hết sức nguy hiểm để thực hiện mua và bán vì ở tại những vùng này thường không có nhiều thông tin hỗ trợ.


Cách sử dụng chỉ báo Stochastic: đây là 1 trong những chỉ số dùng để nhận biết sự đảo chiều của thị trường.


1. Thông thường những vùng overbought/oversold là những vùng chỉ báo có sự biến động. Tín hiệu bán khi chỉ báo stoc tăng mạnh lên trên 80 và cho tín hiệu mua khi stoc rơi xuống dưới 20.


2. Khi fast stochastic (%K) các low stochastic (%D) và hướng từ dưới lên sẽ cho tín hiệu mua, việc này có hiệu quả cao khi nằm trong vùng dưới 20. Tương tự, khi %K cắt %D từ trên xuống sẽ cho tín hiệu bán, điều này có hiệu quả cao khi nằm trong vùng trên 80.


3. Phân kỳ: Khi đường giá tăng nhưng đường stochastic giảm thì cho tín hiệu bán. Khi đường giá giảm mà đường stochastic tăng thì sẽ cho tín hiệu mua.


Một tín hiệu mạnh xảy ra khi cả 3 tín hiệu trên đều cho ra 1 tín hiệu mua hay bán. Đôi khi tại những lúc thị trường đạt đỉnh thì stochastic cũng nằm ở vị trí cao nhất và khi thị trường ở đáy thì stochastic cũng ở vị trí thấp nhất. Đây cũng là dấu hiệu nhận biết để thóat ra hay nhảy vào của những nhà đầu tư.