Đăng bởi Để lại phản hồi

Trường hợp trái phiếu lãi suất thả nổi

Giá trị của một trái phiếu thả nổi tạo ra doanh thu tính theo lãi suất bằng vái tỷ lệ chiết khấu sẽ không dựa vào những lãi suất hiện hành. Điều này hiển nhiên trong trường hợp một kỳ, bởi vì tài sản tạo ra ì+r vào cuối kỳ và dòng tiền chiết khấu với tỷ lệ r có giá trị hiện tại là (l+r)/(l+r)=l. Tính chất này ứng với những trái phiêu thả nổi nhiều kỳ bởi vì một trái phiếu như vậy có thể được sao chép bằng một chuỗi những trái phiếu một kỳ.

Vào mỗi thời điểm, trái phiếu một kỳ được thanh toán và doanh thu được dùng để đầu tư vào một trái phiếu khác. Vào cuối mỗi kỳ, chúng ta đi vay cho một kỳ mói với doanh thu từ lãi suất của kỳ trước. Vì vào đầu mỗi kỳ, giá trị của khoản nợ thả nổi là mệnh giá tất .cả những cồ phiếu một kỳ có giá trị bằng mệnh giá. Giá trị của cổ phiếu thả nổi hôm náy cũng là giá trị mệnh giá.

trái phiếu

Thời gian liên tục
Khi gộp liên tục thay vì gộp rời rạc, những công thức cơ bản cho giá trị tương lai và hiện tại rất đơn giản với rc là tỷ lệ chiết khấu liên tục và khung thời gian T:
B(t,T)-exp[-r(T-t]
Giá trị tương lai của dòng tiền hôm nay được tính là hàm mũ của r(T-t) hay exp[r(T-t)].
exp[-r(fc)*]
Chú ý tỷ lệ r có thể thay đổi theo thời gian
Giá trị tài sản và thu nhập thị trường yêu cầu
Bời vì giá trị tài sản là giá trị chiết khấu của tất cả những dòng tiền tương lai ở lãi suất thị trường, có một mối quan hệ ngược giữa giá trị trái phiếu lãi suất cố định và lãi suất. Bằng cách thay đổi tất cả các lãi suất cùng một lượng, ta thấy thừa số chiết khấu 1/(14- r + Ar)* giảm, khiến cho giá trị thấp hơn (hình 11.2). Ngoại lệ duy nhất là trái phiếu với lãi suất thả nổi vì nó có giá trị cố định.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Độ nhạy và các nhân tố rủi ro

Độ nhạy là tỷ số giữa sự thay đổi của một biến với sự thay đổi của những thông số cơ sở ngẫu nhiên. Điều này khiến cho độ nhạy là một thước đo rủi ro rất tiện lợi vì chúng liên hệ một biến với nguồn gốc của sự bất trắc ảnh hưởng tới biến đó. Nguồn gốc này có thể là tài sản cơ sở đối với phái sinh hay các tham số thị trường. Chúng được gọi là “nhân tố rủi ro”.


Công thức khai triển Taylor được giới thiệu ở chương 12, khi giới thiệu bổ đề Ito cho một hàm số với hai biến. Với một biến, công thức đơn giản hóa thành. Sự thay đổi nhỏ của X được viết là Ax. Công thức trên có nghĩa là, với những biến tất định, một sự thay đổi nhỏ của biến dẫn tới sự thay đổi của hàm có thật được xấp xỉ bằng số hạng bậc một của Ax. Một phép xấp xỉ chính xác hơn sẽ sử dụng cả số hạng bậc hai.

Đạo hàm thứ nhất áp dụng cho Ax là độ nhạy, số hạng bậc hai là sự thay đổi của độ nhạy khi Ax không thể bỏ qua. Đạo hàm bậc hai là đạo hàm bậc một của độ nhạy. Chuỗi Taylor chỉ rõ sự thay đổi giá trị công cụ là một hàm số của những đạo hàm bậc một, hai, ba… Với những thay đổi lớn, nên tính cả những số hạng tiếp theo cao hơn bậc một. Trong tất cả các trường họp, sử dụng các số hạng bậc cao hơn bậc một tạo ra xấp xỉ tốt hơn vì nó bao gồm những mối quan hệ phi tuyên tính giữa giá trị và nhân tố rủi ro.

các nhân tố rủi ro

Khi những số hạng bậc hai có thể bỏ qua, công cụ được gọi là “tuyến tính” vì sự thay đổi giá trị của nó phụ thuộc tuyên tính vào các nhân tố rủi ro. Quyền chọn là những công cụ phi tuyên tính vì đoạn “gẫy” trong thu nhập khi tài sản cơ sở có giá trị bằng giá thực hiện. Giá trị quyền chọn có những thay đổi “nhẵn” hơn thu nhập vì giá trị thời gian của quyền chọn, nhưng delta sẽ thay đổi đáng kể với giá trị cơ sở.

Công thức trên có thể được mở rộng với mọi số lượng biến. Ví dụ, nêu ta có hai biến, công thức sẽ mở rộng và nhìn có vẻ phức tạp hơn, nhưng những thay đổi bậc một luôn là những đạo hàm bậc một. Công thức chung với hai biến rất nổi tiếng vì nó là xuất phát điểm cho bổ đề Ito. Trong trường hợp hai biến, hàm số là f(x,y) và khi dịch chuyển X, y một chút từ vị trí ban đầu (JC0 ,y0), thay đổi của hàm số cũng được xấp xỉ bỏi khai triển Taylor. Bây giờ, đạo hàm là các đạo hàm riêng theo một trong hai biến. Hàm số và đạo hàm riêng được tính ớ giá trị ban đầu (x0, y0 ) và Ax = X — x0, Ay = y — y0.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Độ nhạy và kiểm soát rủi ro

Kiểm soát rủi ro có nghĩa là kiểm soát độ nhạy với rủi ro bằng cách có những vị thế bù trừ cho những nhân tố rủi ro. Kích thước của vị thế phòng hộ tùy vào độ nhạy tương đối của công cụ được phòng hộ và công cụ phòng hộ, như trong trường hợp phòng hộ đoản vị của một quyền chọn. Phòng hộ delta có nghĩa là bù trừ giá trị quyền chọn với một vị thế trên công cụ. Đây là một hệ quả trực tiếp của việc tạo ra danh mục đầu tư không rủi ro vì mục đích đánh giá quyền chọn. Bởi vì quyền chọn có những độ nhạy khác nhau ngoài delta, chúng không được bảo hộ ví dụ như vega. Những vị thế phòng hộ phải tính toán đến tất cả những độ nhạy, đặc biệt là delta, gamma và vega đối với quyền chọn.

kiểm soát rủi ro

Khi những công cụ phòng hộ không phụ thuộc vào đúng những nhân tố với công cụ được phòng hộ, sẽ có rủi ro cơ bản, nghĩa là hai vị thế không bù trừ nhau hoàn toàn. Trong kế toán phòng hộ, phòng hộ được công nhận dựa trên độ hiệu quả. Độ hiệu quả được tính bằng khả năng bù trừ cho những thay đổi giá trị của công cụ được phòng hộ, bao gồm bù trừ bao nhiêu, bao lâu và tương quan giữa nhân tố rủi ro của hai công cụ.
Danh mục đầu tư của các công cụ có thể nhạy với hàng trăm loại rủi ro khác nhau: lãi suất, tỷ giá, cổ phiếu… Quản lý rủi ro đòi hỏi tính toán độ nhạy với tất cả những nhân tố đó, trong khi những công cụ đơn lẻ chỉ nhạy với một số nhân tố rủi ro.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Trái phiếu thành tố không thể thiếu trong danh mục đầu tư

Từ khi chính phủ bắt đầu phát hành trái phiếu thường xuyên vào đầu thế kỷ 20 và đưa nó phát triển lên thị trường trái phiếu hiện đại, nhà đầu tư đã mua trái phiếu với nhiều lý do khác nhau: bảo toàn vốn, thu nhập, đa dạng hóa và phòng ngừa rủi ro đối với sự suy yếu của nền kinh tế hoặc giảm phát. Khi thị trường trái phiếu dần mở rộng và đa dạng hơn vào những thập niên 70, 80, các trái phiếu dần trải qua những biến động thường xuyên và lớn hơn về giá và nhiều nhà đầu tư bắt đầu kinh doanh trái phiếu, nắm bắt lợi ích tiềm ẩn: giá hoặc vốn, thặng dư. Giờ đây, các nhà đầu tư có thể chọn mua trái phiếu vì tất cả những lý do này.

Bảo toàn vốn: Khác với cổ phiếu, trái phiếu hoàn trả vốn gốc vào một ngày xác định hay còn gọi là ngày đáo hạn. Điều này làm cho trái phiếu thu hút những nhà đầu tư không muốn có rủi ro trên phần vốn gốc và những nhà đầu tư cần thực hiện nghĩa vụ nợ vào một thời điểm xác định trong tương lai. Các trái phiếu có thêm lợi ích là lãi suất chào bán xác định thường cao hơn lãi suất tiết kiệm ngắn hạn.

Thu nhập: Đa số trái phiếu mang lại cho nhà đầu tư thu nhập cố định. Căn cứ vào lịch xác định, có thể là hàng quý, nửa năm hoặc hàng năm, nhà phát hành chuyển trả lãi cho trái chủ và có thể được dùng để tái đầu tư vào những trái phiếu khác. Cổ phiếu cũng có thể tạo ra thu nhập từ các khoản cổ tức nhưng thường ít hơn so với trái tức và các doanh nghiệp có toàn quyền quyết định việc chi trả cổ tức trong khi trái chủ phải có trách nhiệm chi trả trái tức.

Thặng dư vốn: Giá trái phiếu có thể tăng vì rất nhiều nguyên do, gồm cả việc giảm lãi suất và việc cải thiện xếp hạn tín nhiệm của nhà phát hành. Nếu một trái phiếu được nắm giữ đến khi đáo hạn và lợi nhuận từ tăng giá trái phiếu trong dòng đời của trái phiếu không được hiện thực hóa thì giá trái phiếu đó sẽ dần lùi về bằng mệnh giá (100) vì nó tiến gần đến ngày đáo hạn và kỳ thanh toán vốn gốc. Tuy nhiên, nhà đầu tư có thể ghi nhận lợi nhuận từ giá trái phiếu tăng bằng cách bán trái phiếu sau khi giá trái phiếu tăng trước ngày đáo hạn hay còn gọi là thặng dư vốn. Ghi nhận thặng dư vốn trên trái phiếu làm gia tăng tổng lợi nhuận, bao gồm thu nhập và thặng dư vốn. Đầu tư vì tổng lợi nhuận đã trở thành chiến lược đối với trái phiếu được sử dụng rộng rãi trong suốt 40 năm qua. (Tham khảo thêm tại: “Chiến lược đầu tư trái phiếu”.)

Đa dạng hóa: Kết hợp các trái phiếu trong một danh mục đầu tư có thể giúp đa dạng hóa danh mục. Nhiều nhà đầu tư đa dạng hóa giữa các loại tài sản từ cổ phiếu và trái phiếu đến hàng hóa và các loại hình đầu tư khác với nổ lực mang rủi ro về mức thấp hoặc thậm chí là mức âm đối với danh mục của họ.

Phòng ngừa đối với sự trì trệ của nền kinh tế hoặc giảm phát: Các trái phiếu có thể giúp bảo vệ nhà đầu tư khỏi sự trì trệ của nền kinh tế vì nhiều lý do. Giá của một trái phiếu tùy thuộc vào việc nhà đầu tư định giá thu nhập mà trái phiếu mang lại. Phần lớn trái phiếu chi trả thu nhập cố định và không thay đổi. Khi giá của hàng hóa và dịch vụ tăng, điều kiện kinh tế được xem là lạm phát, một trái phiếu có thu nhập cố định trở nên kém hấp dẫn vì khoản thu nhập đó mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn. Lạm phát thường song hành với tăng trưởng kinh tế nhanh vốn làm gia tăng nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ. Trái lại, tăng trưởng kinh tế chậm thường dẫn đến lạm phát thấp làm cho thu nhập từ trái phiếu trở nên hấp dẫn. Sự chậm chạp của nền kinh tế là tín hiệu không tốt đối với lợi nhuận của doanh nghiệp và thu nhập chứng khoán làm gia tăng sức hấp dẫn của lợi nhuận từ thu nhập trái phiếu.

Nếu sự chậm chạp của nền kinh tế ảnh hưởng đến việc khách hàng thôi mua sắm và giá cả trong nền kinh tế bắt đầu giảm, điều kiện kinh tế khó khăn hay còn được xem là giảm phát, thì thu nhập từ trái phiếu trở nên hấp dẫn hơn vì trái chủ có thể mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn (do giá cả giảm) đối với cùng một khoản thu nhập. Nhu cầu đối với trái phiếu tăng và do đó giá trái phiếu và lợi nhuận của trái chủ cũng tăng.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Lịch sử hình thành và phát triển chỉ báo NKT Oscillator (New Key Trade).

Từ ngày thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn nằm trong các giáo trình, sách tham khảo tại thư viện của các trường đại học thì đã có một sinh viên lặng lẽ, âm thầm thuộc lòng những cuốn sách kinh điển về thị trường chứng khoán của các học giả, nhà đầu tư huyền thoại trên thế giới.

Sự cuốn hút, đam mê những con số ẩn sau thị trường chứng khoán đã chiếm hết thời gian 4 năm học đại học, không yêu đương, không sinh nhật, không cảm xúc trước sự thay đổi thời tiết. Hà nội mùa đông giá lạnh, giữa sân trường vẫn thấp thoáng cậu sinh viên  dáng người mảnh khảnh khoác trên mình chiếc áo cộc tay hàng hiệu và đôi dép tổ ong bước hối hả vào thư viện sau cuối mỗi buổi học.

Sinh viên cả khoa nhìn cậu với ánh mắt dị biệt, mọi thứ không quan trọng với cậu ấy, quan trọng là kết quả học tập mỗi học kỳ phải đạt học bổng để có tiền học thêm một trường đại học khác.

Thời gian thấm thoát đã trải qua hơn 20 năm. Những trang sách trong thư viện đã được cậu sinh viên đó áp dụng và xây dựng nên thuật toán NKT Oscillator.

Nhân kỷ niệm ngày thành lập nhóm nghiên cứu chỉ báo NKT Oscillator; Mình  xin gửi lời cảm ơn sâu sắc những đóng góp của các thành viên trong nhóm cho sự thành công đến ngày hôm nay của NKT Oscillator.

Khi công bố một phần chỉ báo NKT Oscillator (New Key Trade)  đã có rất nhiều nhà đầu tư tổ chức cũng như cá nhân gửi mail, gọi điện cho chúng tôi để mong muốn hợp tác với traiphieu.com, đó là câu trả lời chính xác nhất con đường chúng tôi đang đi đúng hướng.

Chỉ báo NKT Oscillator (New Key Trade) được nghiên cứu và phát triển đến giờ đã thu được thành công ngoài mong đợi. Lâu nay, chỉ báo này được chúng tôi bảo mật khá kỹ, tất cả các thành viên trong nhóm nghiên cứu mỗi người chỉ có thể nắm một phần nguyên lý, thuật toán nên tất cả định chế tài chính có ý định mua chuộc, đánh cắp, sao chép thuật toán của traiphieu.com là điều không thể, vô nghĩa .

Lịch sử hình thành phát triển của Nhóm nghiên cứu hết sức ngẫu nhiên, tình cờ, hồn nhiên và vô tư. Chúng tôi đến từ những vùng quê khác nhau, học các trường đại học khác nhau, đang công tác tại sở, ngành, những tổng công ty, định chế tài chính hàng đầu tại Việt Nam với mức lương hấp dẫn. Ban đầu nhóm chỉ có 3 thành viên sau đó kết nạp thêm 2 thành viên, cả 5 thành viên đều mang trong lòng cháy bỏng niềm đam mê sáng tạo, khát vọng vươn lên, chấp nhận từ bỏ tất cả, thậm chí là cả địa vị, tiền bạc kỳ vọng sẽ tìm ra quy luật sau những con số tưởng chừng như ngẫu nhiên, lạnh lùng trên bảng điện tử.

Chúng tôi không thể xin được bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào tài trợ cho những ý tưởng điên rồ của chúng tôi. Để có kinh phí nghiên cứu, chúng tôi đành thuê phòng, đường truyền, thiết bị của một công ty chứng khoán với mức 15 triệu đồng/tháng và tự xây dựng một quỹ đầu tư để có tiền nuôi sống bản thân, gia đình, trang trải chi phí trong quá trình nghiên cứu.

Sau 1,5 năm làm việc cùng nhau, cả nhóm nghiên cứu sống như những người anh em thân trong gia đình, cả nhóm luôn tràn ngập tiếng cười khi thành công nối tiếp thành công, tạo ra những lợi nhuận “kinh hoàng” tại thời điểm đó mặc tiếng kêu than của thị trường, nhóm chúng tôi vẫn kiếm ra tiền, vẫn uống rượu, vẫn chơi trò chơi điện tử “đế chế” vào những buổi cuối tuần để rèn thêm kỹ năng quản lý tài nguyên.

Đằng sau những niềm vui bất tận của cả nhóm luôn ẩn chứa sự lo lắng của người Nhóm trưởng với những câu hỏi ru anh vào giấc ngủ: Nếu thành công, vinh quang sẽ được chia sẻ như nào? Nếu thất bại, điều gì sẽ chờ đợi số phận 5 con người ?

Nguồn: NKT Oscillator

Đăng bởi Để lại phản hồi

Giá trị doanh nghiệp là gì? Hiểu rõ để không mua phải doanh nghiệp ‘giấy vụn’.

Giá trị Doanh nghiệp, hay EV ngắn gọn, là thước đo tổng giá trị của một công ty, thường được sử dụng như một sự thay thế toàn diện hơn đối với vốn hóa thị trường vốn chủ sở hữu. Giá trị doanh nghiệp được tính bằng vốn hóa thị trường cộng với nợ, cổ phần thiểu số và cổ phần ưu đãi trừ đi tổng tiền mặt và các khoản tương đương tiền.

EV = giá trị thị trường của cổ phiếu phổ thông + giá trị thị trường của cổ phiếu ưu đãi + giá trị thị trường của khoản nợ + lợi ích của cổ đông thiểu số – tiền mặt và đầu tư.

Thông thường, lợi ích của người thiểu số và vốn chủ sở hữu được ưu tiên là không, mặc dù điều này không phải là trường hợp.

Giảm ‘Giá trị Doanh nghiệp (EV)’

Giá trị doanh nghiệp (EV) có thể được coi là giá tiếp quản lý thuyết nếu một công ty được mua. EV khác với vốn hóa thị trường đơn giản bằng nhiều cách, và nhiều người cho rằng nó là một sự đại diện chính xác hơn về giá trị của một công ty. Ví dụ, giá trị của nợ của một công ty sẽ phải được trả bởi người mua khi tiếp quản một công ty, do đó, giá trị doanh nghiệp cung cấp việc định giá tiếp quản chính xác hơn nhiều vì nó bao gồm nợ trong tính toán giá trị của nó.

Tại sao giá trị vốn hóa thị trường lại không đại diện cho giá trị của một công ty? Nó để lại rất nhiều yếu tố quan trọng, chẳng hạn như một khoản nợ của công ty trên một mặt và dự trữ tiền mặt của nó ở mặt kia. Giá trị doanh nghiệp về cơ bản là một sự điều chỉnh giới hạn thị trường, vì nó kết hợp nợ và tiền mặt để xác định giá trị của một công ty.

Giá trị doanh nghiệp trong thực tiễn

Công thức cho EV là tổng của một giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu (vốn hóa thị trường) và giá trị thị trường của nợ của một công ty, ít tiền mặt hơn. Mức vốn hóa thị trường của một công ty được tính bằng cách nhân giá cổ phiếu bằng số cổ phần đang lưu hành. Nợ ròng là giá trị thị trường của nợ trừ đi tiền mặt. Một công ty mua lại một công ty khác là giữ tiền mặt của công ty mục tiêu, đó là lý do tại sao tiền mặt cần phải được khấu trừ khỏi giá của công ty với giá thị trường.

Hãy tính giá trị doanh nghiệp cho Macy’s (NYSE: M). Trong năm tài chính kết thúc vào ngày 28 tháng 1 năm 2017, Macy ghi nhận:

Dữ liệu của Macy được kéo từ bản cáo bạch 10 tháng 10 năm 2017
1# Cổ phiếu đang lưu lại308,5 triệu
2Giá Cổ phiếu tính đến ngày 17/11/17$ 20.22
3Vốn hóa thị trường6.238 tỷ đô laMục 1 x 2
4Nợ ngắn hạn309 triệu đô la
5Nợ dài hạn6,5 tỷ đô la
6Tổng nợ6,8 tỷ đô laMục 4+ 5
7Tiền và các khoản tương đương tiền1,3 tỷ USD
Giá trị doanh nghiệp11.808 tỷ đô laMục 3 + 6 – 7

Nếu một công ty mua cổ phiếu của Macy với giá 6,24 tỷ đô la, nó cũng sẽ phải thanh toán các khoản nợ chưa thanh toán của Macy với tổng số tiền lên đến 6,87 tỷ đô la. Tổng cộng, công ty mua lại sẽ chi 13,11 tỷ đô la Mỹ để mua Macy’s. Tuy nhiên, vì Macy’s có 1,3 tỷ USD tiền mặt, số tiền này có thể được thêm vào để trả nợ. Số tiền từ kho bạc của công ty mua lại sẽ được sử dụng để trả nợ của Macy sẽ chỉ là 6,87 tỷ đô la – 1,3 tỷ đô la = 5,57 tỷ đô la. Do đó, công ty sẽ chi trả 5,57 tỷ đô la Mỹ + 6,24 tỷ đô la Mỹ = 11,81 tỷ đô la, đó là giá trị thị trường ước tính của Macy’s.

Giá trị doanh nghiệp như một doanh nghiệp nhiều

Doanh nghiệp nhân với giá trị doanh nghiệp liên quan đến tổng giá trị của một công ty được phản ánh trong giá trị thị trường của vốn từ tất cả các nguồn để đo lường thu nhập hoạt động được tạo ra, chẳng hạn như thu nhập trước lãi, thuế, khấu hao và khấu trừ ( EBITDA) .

EBITDA = thu nhập định kỳ từ hoạt động liên tục + lãi + thuế + khấu hao + khấu hao

Giá trị doanh nghiệp / EBITDA nhiều tích cực liên quan đến tốc độ tăng trưởng của dòng tiền tự do cho công ty (FCFF) và tiêu cực liên quan đến mức rủi ro tổng thể của công ty và chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC).

EV / EBITDA rất hữu ích trong một số trường hợp:

  • Tỷ lệ này có thể hữu ích hơn so với tỷ số P / E khi so sánh các doanh nghiệp với mức độ đòn bẩy tài chính khác nhau (DFL).
  • EBITDA rất hữu ích cho việc đánh giá các doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn với mức khấu hao và khấu trừ cao.
  • EBITDA thường là tích cực ngay cả khi thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) không.

EV / EBITDA cũng có một số nhược điểm, tuy nhiên:

  • Nếu vốn lưu động đang phát triển, EBITDA sẽ phóng đại dòng tiền từ hoạt động (CFO hoặc OCF). Hơn nữa, biện pháp này bỏ qua các chính sách nhận dạng doanh thu khác nhau như thế nào có thể ảnh hưởng đến OCF của công ty.
  • Do dòng tiền tự do cho doanh nghiệp thu được số tiền chi tiêu vốn (CapEx) nên nó liên quan chặt chẽ hơn với lý thuyết định giá hơn là EBITDA. EBITDA sẽ là một biện pháp nói chung đầy đủ nếu chi phí vốn bằng nhau với chi phí khấu hao.

Một số khác được sử dụng phổ biến để xác định giá trị tương đối của các doanh nghiệp là giá trị doanh nghiệp theo tỷ lệ bán hàng, hoặc EV / Bán hàng . EV / doanh thu được coi là một biện pháp chính xác hơn so với tỷ lệ Giá / Bán hàng vì nó tính đến giá trị và số tiền nợ mà một công ty có, cần phải được trả lại tại một số điểm. Nói chung, EV / doanh thu bán hàng thấp hơn, nhiều công ty được đánh giá là hấp dẫn hoặc bị đánh giá thấp. Tỷ lệ EV / doanh thu thực tế có thể âm tính vào thời điểm khi tiền mặt nắm giữ bởi một công ty lớn hơn vốn hóa thị trường và giá trị nợ, có nghĩa là công ty về cơ bản có thể tự nó bằng tiền mặt của mình.

 

Đăng bởi Để lại phản hồi

Nâng hạng thị trường chứng khoán cần có sản phẩm Hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ (TPCP)

Để hướng đến mục tiêu nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi đã đến lúc cần phải tạo ra thêm sản phẩm mới để khơi thông dòng tiền vô cùng lớn chưa thể  chảy vào thị trường.

Các ngân hàng thương mại với việc nắm giữ khoảng 95% danh mục TPCP đang lưu hành, cũng như có nhiều lợi thế về vốn, tài sản… thì lại chưa có thị trường phái sinh trái phiếu chính phủ để giao dịch.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, khi nhà đầu tư thường xuyên giao dịch và sở hữu lượng lớn TPCP trên thị trường cơ sở thì họ có nhu cầu cao giao dịch trên thị trường phái sinh.

Mặt khác, để thị trường trái phiếu hiệu quả thì phải có cả thị trường TPCP cơ sở và phái sinh. Để giao dịch trên thị trường cơ sở có thanh khoản tốt thì giao dịch trên thị trường thứ cấp phải minh bạch thông qua cơ chế khớp lệnh trên sàn. Trong khi trên thực tế, các giao dịch trên thị trường thứ cấp tuyệt đại đa số là giao dịch thỏa thuận (việc đặt lệnh được thực hiện qua Sở GDCK Hà Nội sau khi đã có sự thảo thuận) và OTC, còn giao dịch thông qua yết giá trực tiếp và khớp lệnh trên sàn gần như không đáng kể.

Nếu không cải thiện tình trạng này, thì dù muốn, chúng ta không thể khơi thông dòng vốn chảy vào thị trường chứng khoán, tạo ra thanh khoản, thiết lập được cơ chế lãi suất thị trường minh bạch để các thành viên trong nền kinh tế mới có thể hoạch định được chiến lược kinh doanh lâu dài.

Giải quyết những thách thức trên, ý kiến từ giới chuyên gia cho rằng, cần mở cửa và khuyến khích các công ty chứng khoán và ngân hàng tham gia với tư cách là nhà tạo lập thị trường trái phiếu. Điều này không chỉ tạo độ sâu cho thị trường giao dịch Hợp đồng tương lai TPCP, mà còn gia tăng sức hấp dẫn, thu hút nhiều ngân hàng tham gia giao dịch sản phẩm phái sinh thứ hai này.

“Với quy định hiện hành, việc các ngân hàng thương mại phải giao dịch Hợp đồng tương lai TPCP thông qua mở tài khoản như các nhà đầu tư khác tại CTCK, mà không được trực tiếp bù trừ, thanh toán qua Trung tâm Lưu ký chứng khoán (VSD) sẽ phát sinh không ít vướng mắc, rủi ro…”, lãnh đạo một ngân hàng quan ngại. Theo đó, các ngân hàng thương mại thường giao dịch với lệnh có giá trị lớn, nhưng lại không được là thành viên giao dịch trực tiếp với VSD để bù trừ, thanh toán cho giao dịch của họ, nên sẽ ảnh hưởng đến tính chủ động trong giao dịch.

“Việc ngân hàng thương mại chưa được cấp phép hoạt động thanh toán, bù trừ trực tiếp với VSD sẽ gây khó cho hoạt động tham gia TTCK phái sinh của các tổ chức tín dụng. Phải giao dịch qua CTCK với các ngân hàng còn tạo nên những mối lo về bảo mật thông tin. Đó là chưa kể với các lệnh có giá trị lớn, việc giao dịch qua CTCK còn gây nên rủi ro về tốc độ xử lý lệnh.

Bộ Tài chính và Ủy ban cần lên kế hoạch làm việc với Ngân hàng Nhà nước để tháo gỡ các vướng mắc, tạo thuận lợi cho các thành viên tham gia thị trường, trong đó có việc để các ngân hàng được thực hiện bù trừ, thanh toán cho giao dịch phái sinh TPCP…

Việc Việt Nam có thêm sản phẩm mới để TTCK Việt Nam sẽ được nâng hạng ngay trong năm 2019. Đó là một tin tốt lành với hầu hết các nhà đầu tư, sau chuỗi ngày chờ đợi.

Nguồn: traiphieu.com

Đăng bởi Để lại phản hồi

Con không hoàn hảo nhưng hãy luôn tạo ra sản phẩm Hương Tâm Linh theo cách hoàn hảo nhất

Bài viết đang được chia sẻ nhiều nhất trên mạng xã hội



Link: http://www.huongtamlinh.vn/2018/09/nguoi-hoa-than-day-bao-con-khong-hoan.html


Lợi nhuận, chi phí, chất lượng là ba chỉ tiêu bất khả thi mà bất kỳ một hãng sản xuất nào cũng phải đối mặt trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt ở thời đại công nghệ 4.0.


Trong một lần “vi hành” xuống các đại lý doanh số bán hàng thấp tại các tỉnh miền núi phía bắc, CEO Hương Tâm Linh bị xúc động mạnh khi chứng kiến “NGƯỜI” – một vị khách hàng nghèo bán cả gùi rau chưa đủ tiền mua 1 ống Hương Tâm Linh để về thắp hương cho cha vào ngày giỗ, “NGƯỜI” đã cố gắng phân trần với chị bán hàng rằng tất cả trong túi chỉ có bằng đó tiền,  dù thiếu tiền nhưng mong muốn có một nắm Hương Thơm Tâm Linh để thắp hương giỗ cha. 

Tôi đã khóc, khóc vì tấm lòng thành kính, thơm thảo của “NGƯỜI” đối với cha mẹ; Khóc vì sự giản dị, vĩ đại của một nhân cách ẩn chứa trong bộ dạng một người nghèo khổ, khóc vì mình ngu dốt khi  tạo ra  sản phẩm vượt quá tầm tay một ước mơ bình dị, ước mơ ấy xứng đáng được trân trọng. Khóc không có nghĩa là yếu đuối, khóc chỉ là vì muốn giải thoát một điều gì đó. Đôi khi, giọt nước mắt rơi vì tìm được chân lý  là giọt nước mắt hạnh phúc vì thế không có gì mà xấu hổ. 

Đăng bởi Để lại phản hồi

Nhiều thương hiệu Việt đang học cách quản trị thương hiệu Hương Tâm Linh để hồi sinh

Thương hiệu Hương Tâm Linh là bằng chứng sống trong việc tồn tại và phát triển bất chấp sự tràn ngập hàng hóa nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam. Với phương châm: Chất lượng, truyền thống, khác biệt khiến Thương hiệu Hương Tâm Linh luôn được người Việt đón nhận.


ảnh lấy từ http://www.huongtamlinh.vn/





Nhìn tấm gương Hương Tâm Linh; Hiện nay, nhiều thương hiệu Việt như diêm Thống Nhất, mì Miliket, kem đánh răng Dạ Lan, bông Bạch Tuyết…đã bắt đầu thay đổi cấu trúc và vực dậy tên tuổi của mình.
Như diêm Thống Nhất đã làm thêm bật lửa, mì Miliket thì chú ý khâu tiếp thị hơn, kem đánh răng Dạ Lan thì thay đổi chất lượng, mùi vị độc, giá thành phải chăng, Bông Bạch Tuyết tập trung trở lại vào ngành hàng bông băng y tế, tạm dừng cuộc đua vào thị trường băng vệ sinh khốc liệt với các thương hiệu nổi tiếng nước ngoài.
Đánh giá về sự trở lại trên của các thương hiệu Việt, trao đổi với Đất Việt, ông Vũ Vinh Phú – nguyên Chủ tịch Hội siêu thị Hà Nội cho biết: “Rõ ràng, bây giờ phải có một cuộc cách mạng trong sản xuất, để có thể giữ lại được truyền thống của mình, thay đổi nội dung ở trong con người từng doanh nghiệp.
Như bóng điện Rạng Đông vẫn bán được nhưng cần cải tiến bóng đèn led, huỳnh quang, không đổi mới đồng nghĩa với chết.
Nhieu thuong hieu Viet hoi sinh: Co len, dung mo mong...
Nhiều thương hiệu Việt hồi sinh
Đổi mới trong bối cảnh rất nhiều sản phẩm các nước xâm nhập vào Việt Nam, một bánh xà phòng thơm Dạ Lan liệu có cạnh tranh được với xà phòng Soap của Thái Lan hay không?. Tức là phải phấn đấu trên cơ sở cạnh tranh được, ngoài điểm mạnh duy nhất có được là sự ủng hộ của người Việt dùng hàng Việt, tâm lý dùng các sản phẩm ký ức một thời, thì các doanh nghiệp không còn gì.
Còn điểm yếu thì vô cùng nhiều, đặc biệt là sự vươn lên, có một chuyên gia nước ngoài nói một câu tôi rất tâm đắc: “Hàng Việt Nam phải chinh phục người tiêu dùng Việt, chứ không phải người Việt ưu tiên dùng hàng Việt”.
Trong khi đó, các mặt hàng Thái Lan, Úc, Mỹ la liệt, họ làm chất lượng tốt hơn, quảng cáo, tiếp thị tốt. Và giờ họ còn có sự hậu thuẫn, tiếp tay của hệ thống phân phối. Ông trùm Thái Lan hiện nay đã mua BigC, Metro, Nguyễn Kim…tất cả làm cho sản xuất phân phối, đảo lộn tình hình.
Thực ra sự thay đổi trên là đáng mừng nhưng không thể chủ quan. Trước đây, chúng ta một mình một chợ, giờ thì một mình mà bao nhiêu hàng đến, người tiêu dùng có cơ hội so sánh, chọn lựa. Cho nên phải kiên trì, nhà nước có cơ chế, chính sách hỗ trợ, chứ một mình doanh nghiệp không thể tự bơi được.
Nhà nước phải chống hàng giả, dành sân cho hàng đủ chất lượng, thiết nghĩ phải 5-10 năm nữa, các sản phẩm trên mới lấy lại được thị trường. Vì hiện nay sự hấp dẫn của hàng hóa phong phú vô cùng, sự tiếp thị, lan truyền, phát sinh dân số rất mạnh mẽ”.
Cũng theo ông Phú, bây giờ muốn chen chân vào siêu thị gửi một bánh xà phòng Dạ Lan phải chịu chiết khấu 30%, ngay siêu thị nội cũng đang giết hàng nội, kể cả sản xuất và phân phối.
Mới đây có Hội thảo kết nối 6 nhà, muốn làm một bánh xà phòng Dạ Lan thì phải kết nối: nhà nước, nhà băng, nhà đầu tư, nhà phân phối, nhà khoa học…như một con tàu.
Trung Quốc có những huyện sản xuất cà vạt cho một nửa thế giới, 1/4 thế giới dùng bật lửa ga của họ.
“Để thấy chúng ta có quyền mơ ước, có quyền cạnh tranh, nhưng phải có điều kiện cần và đủ cho sự phát triển. Như ông chủ xúc xích Đức Việt – 1 ngày 8 đoàn kiểm tra, nên đành bán lại cho nước ngoài, hiện đã bán cho một Tập đoàn Hàn Quốc.
Thực ra việc xây dựng lại thương hiệu là dễ làm, khó bỏ, không kiên trì, không có hỗ trợ, hơi không dài, chiến lược tầm xa thì khó phát triển.
Tôi không bi quan, nhưng nhiều nhà phân phối Việt cứ làm phát triển lên được một chút thì bán đứt cho nước ngoài, vậy còn đâu các nhà phân phối đón bánh xà phòng Dạ Lan, bật lửa Diêm Thống Nhất, vì đã bán hết cổ phần. Mà khi đã bán cổ phần thì chắc chắn phải đưa hàng Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan vào”, ông Phú nhấn mạnh.
Những việc cần làm ngay
Để thành công, theo vị chuyên gia trên, có làm hay không là do nhà nước, do bàn tay doanh nghiệp, do sự liên kết giữa các nhà.
Một là, họ phải có chiến lược; hai là, phải có trường vốn, 3-5 năm hòa vốn vẫn phải kiên trì, xây dựng hình ảnh thương hiệu chục năm, làm công tác tiếp thị cho khách hàng.
Người tiêu dùng hiện nay chỉ có 3 tiêu chí: giá cả, chất lượng và làm ăn có uy tín, trách nhiệm.
Như hiện nay, Việt Nam ăn 5 tỷ gói mỳ tôm/năm, nhưng mỳ Việt Nam chiếm 5%, nhưng cũng là liên doanh, mà như vậy cũng coi như của nước ngoài. Hiện quy định người Việt Nam phải làm trên 50% các bộ phận chính của sản phẩm đó thì mới được coi là của mình, còn đâu vẫn phải của nước ngoài.
“Chúng ta đừng quá mơ mộng, phải đối diện sự thật, phải cọ xát, cạnh tranh, kiên trì. Và nếu làm tốt nó sẽ là đòn bẩy phát triển cho hàng Việt, nhưng cần người đứng đầu. Nhà nước phải xây dựng các Tập đoàn phân phối tại nước Việt Nam thật mạnh như Vingroup, THTrue Milk, Vinamilk để họ kéo đi, chứ lác đác thì sẽ bị doanh nghiệp ngoại giết chết.
Như bột giặt Omo hiện nay phải 80% các gia đình Việt đang sử dụng của Unilever, Việt Nam còn duy nhất hàng lương thực thực phẩm chiếm thị phần lớn, còn công nghiệp tiêu dùng, điện máy, Thái Lan chiếm 60%, thịt lợn, thịt gà chiếm 30%, hóa mỹ phẩm toàn P&G, Unilever, máy tính, điện thoại toàn Samsung, Nokia.
Tôi chỉ ra như vậy để chúng ta thấy cần xác định mình đang ở đâu để phấn đấu, đừng tự đội mũ sắt lên đầu rồi nghĩ mình giỏi, chúng ta quá mơ mộng, không thực tế.
Chốt lại phải làm lớn, phải đồng bộ, phải có đầu tàu, phải có sự liên kết lại, chứ còn cứ rời rạc như những củ khoai tây trong bị thì sẽ tự làm xước nhau, phải có sự hỗ trợ từ nhà nước. Có làm được hay không là do mình, chứ không phải do nước ngoài ép”, ông Phú phân tích thêm.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Mối quan hệ “thân thiết” giữa thị trường giao ngay và thị trường phái sinh

Chứng khoán phái sinh đã manh nha hình thành từ thời đế chế Roma cổ đại, khi giao thương đường thủy giữa Anh và các quốc gia trên lục địa châu Âu phát triển. Khi đó, thiên tai và nạn cướp biển hoành hành làm hàng hóa dần trở nên khan hiếm, đòi hỏi phải có một loại giao kèo có thể bảo vệ các thương nhân tránh khỏi sự tăng giá hàng hóa.
Loại giao kèo này được hình thành, cho phép các thương gia trao đổi hàng hóa với nhau theo một giá thỏa thuận trước, tại một thời điểm trong tương lai, mà không phụ thuộc vào điều kiện thị trường lúc đó.
Tuy nhiên, phải đến giữa những năm 1980, các công cụ chứng khoán phái sinh như hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi mới trở nên phổ biến. Năm 1982, Sở Giao dịch tài chính quốc tế hợp đồng tương lai và quyền chọn London (LIFFE) chính thức được khánh thành, trở thành sở giao dịch chứng khoán phái sinh tập trung đầu tiên trong lịch sử TTCK Anh.
ảnh 1
LIFFE được thiết kế mô phỏng Sàn giao dịch Chicago (CBOT) và Sở Giao dịch hàng hóa Chicago (CME). Trải qua nhiều thương vụ sáp nhập và mua lại, cụ thể với Sở Giao dịch hàng hóa London năm 1996, Euronext năm 2002, Sở Giao dịch chứng khoán New York (NYSE) năm 2007 và Sở Giao dịch liên lục địa (ICE) năm 2013, cho đến hiện tại, LIFFE chỉ còn được biết đến như một phần danh mục đầu tư chứng khoán phái sinh của Sàn ICE Futures Europe.
Ngoài LIFFE, Sàn giao dịch Baltic (trung tâm giao dịch hợp đồng tương lai vận tải đường thủy) và Sàn giao dịch kim loại London là những sàn giao dịch chứng khoán năng động nhất tại London.
Bên cạnh đó, giao dịch chứng khoán phái sinh còn diễn ra mạnh mẽ trên thị trường phi tập trung (OTC), giữa các định chế tài chính, bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, công ty quản lý quỹ, công ty bảo hiểm và các công ty phi tài chính.
Theo khảo sát mới nhất vào tháng 4/2016 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS), London giữ vị trí dẫn đầu đối với giao dịch chứng khoán phái sinh tiền tệ (chiếm 36,94% toàn thị trường quốc tế) và đứng thứ hai (38,83%) sau Mỹ trên thị trường phái sinh lãi suất. 
Hiện trạng sử dụng chứng khoán phái sinh tại Anh
Tương tự các thị trường phái sinh khác trên thế giới, nhà đầu tư chứng khoán phái sinh ở Anh chia làm 3 loại: phòng vệ rủi ro, đầu cơ và kinh doanh chênh lệch giá.
Nhà đầu tư phòng vệ rủi ro tham gia hợp đồng phái sinh nhằm bảo vệ mình khỏi những biến đổi bất lợi về giá trị tài sản hoặc nợ của họ. Trái lại, nhà đầu cơ dựa vào những dự đoán về sự biến đổi giá thị trường để kiếm lợi cho mình trên thị trường phái sinh. Còn nhà đầu tư kinh doanh chênh lệch giá là người tận dụng sự chênh lệch giữa giá trên thị trường cơ sở và thị trường phái sinh kiếm lợi cho mình mà không chịu rủi ro khi biến động giá. Ngoài ra, một số công ty tham gia hợp đồng phái sinh nhằm mục đích phân bổ tài sản trên danh mục đầu tư, hoặc cải thiện một số chỉ số tài chính.
Hoạt động mạnh mẽ trên TTCK phái sinh tại Anh phải kể đến phái sinh tiền tệ. Các hợp đồng phái sinh tiền tệ ra đời chủ yếu nhằm mục đích bảo vệ nhà đầu tư khỏi các biến động bất lợi về tỷ giá giữa các quốc gia, trong đó hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng hoán đổi tiền tệ là hai hợp đồng phái sinh được giao dịch nhiều nhất.
Đối với hợp đồng kỳ hạn, nhà đầu tư bắt buộc phải mua hoặc bán một lượng ngoại tệ tại mức tỷ giá và ngày giao hàng định trước. Trong khi đó, hợp đồng hoán đổi tiền tệ phức tạp hơn khi yêu cầu hai bên trao đổi một khoản tiền danh nghĩa và lãi suất thỏa thuận. Lãi suất này khác nhau giữa hai loại tiền tệ được trao đổi.
Hợp đồng phái sinh lãi suất cũng được các nhà đầu tư Anh sử dụng rộng rãi, trong đó nổi bật là hợp đồng hoán đổi lãi suất. Hợp đồng này bao gồm một thỏa thuận giữa hai bên, một bên sẽ trả lãi suất cố định và bên còn lại sẽ thanh toán lãi suất thả nổi, dựa trên một khoản tiền danh nghĩa định trước.


Đây là một công cụ đặc biệt hữu dụng, nhất là đối với các ngân hàng, khi họ thường cho vay với lãi suất thả nổi, trong khi các khoản tiền gửi của khách hàng thường có lãi suất cố định. Trong trường hợp lãi suất trên thị trường giảm, thu nhập của ngân hàng sẽ giảm theo, trong khi lãi trả cho khách hàng lại chưa kịp thay đổi để bù đắp phần thu nhập bị giảm. Việc tham gia hợp đồng phái sinh sẽ giúp các nhà băng ít chịu rủi ro lãi suất hơn. 
Mối quan hệ giữa thị trường giao ngay và thị trường phái sinh
Để kiếm lời, nhà đầu tư có thể chọn giữa hai phương án. Thứ nhất, mua/bán tài sản cơ sở trên thị trường giao ngay và hưởng lợi trên sự tăng/giảm của giá tài sản cơ sở. Thứ hai, tham gia thị trường phái sinh và tận dụng lợi thế đòn bẩy của chứng khoán phái sinh. Bất kể quyết định của nhà đầu tư là gì, thông tin về giá cả của tài sản cơ sở trên thị trường được lựa chọn cũng sẽ bị ảnh hưởng và có tác động lan tỏa sang thị trường còn lại.
Quyết định lựa chọn thị trường của nhà đầu tư thường dựa vào 3 yếu tố: tính thanh khoản của thị trường; chi phí giao dịch, bao gồm chênh lệch giá mua – bán (bid – ask), phí môi giới và phí khác; đòn bẩy tài chính. Thị trường giao ngay thường có tính thanh khoản cao hơn và chi phí giao dịch thấp hơn so với thị trường phái sinh.
Tuy nhiên, hệ số đòn bẩy tài chính lớn trên thị trường phái sinh có thể bù đắp sự bất lợi của hai yếu tố đầu. Do vậy, việc xác định thị trường nào có ảnh hưởng lớn hơn là một câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ. Dựa trên các bài nghiên cứu định lượng gần đây, nhiều học giả cho rằng, tại Anh, TTCK phái sinh vẫn là thị trường tạo sức ảnh hưởng lớn và hỗ trợ  thị trường giao ngay phát triển (leading market).