Đăng bởi Để lại phản hồi

Biên lãi gộp ngành dệt may 2019 co hẹp

Biên lãi gộp suy giảm là gam màu chung của doanh nghiệp dệt may nội địa, giữa bối cảnh khách hàng không chỉ thờ ơ trong việc đặt hàng dài hạn mà còn ép giá thấp hơn so với năm 2018.

bien lai gop det may
doanh thu bien lai gop det may

Trong số các doanh nghiệp xét đến, chỉ có May Sông Hồng (MSH), Mirae (KMR), Everpia (EVE), TDT và Phong Phú (PPH, cái tên hiếm hoi của nhóm Vinatex) là có biên lãi gộp quí III/2019 cao hơn so với cùng kì năm trước.

Dù vậy, những đơn vị này chỉ là thiểu số, khi mà nhóm doanh nghiệp có biên lãi gộp suy giảm áp đảo cả về số lượng lẫn qui mô kinh doanh, xét trên khía cạnh doanh thu.

Thêm một thử thách đối với dệt may Việt Nam là giá nhân công đang dần cao hơn so với các đối thủ trong nhóm 10 nước xuất khẩu may mặc lớn nhất. Bởi lẽ chi phí lao động rẻ vốn là một lợi thế cạnh tranh cốt lõi để Việt Nam thu hút các đơn hàng dệt may.

Ngành dệt may xáo trộn vì thương chiến

Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) là đại diện cho bức tranh còn xám màu của ngành may mặc trong nước. Thương chiến đã khiến kết quả kinh doanh quí III/2019 của các đơn vị thuộc Vinatex giảm đáng kể so với cùng kì năm trước, qua đó ảnh hưởng đến thành tích chung của toàn tập đoàn.

Ngoại trừ May Nhà Bè, hầu hết các đơn vị thành viên thuộc Vinatex đều có doanh thu quí III/2019 sụt giảm so với cùng kì. Bên cạnh đó, nỗi lo về việc thiếu đơn hàng trong thời gian tới cũng đang đeo bám họ.

vinatex nhom cty

Kết quả kinh doanh quí III/2019 của nhóm doanh nghiệp Vinatex. (*): Sở hữu gián tiếp; (**): Lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ. Đvt: Tỉ đồng.

Trước đây, các chuyên gia đều lo ngại năng lực sản xuất của ngành dệt may Việt Nam sẽ không đáp ứng kịp số lượng đơn đặt hàng gia tăng, nhờ hưởng lợi từ các hiệp định CPTPP, EVFTA hay cả thương chiến Mỹ – Trung. Tuy nhiên thực tế trước mắt đang cho thấy điều ngược lại.

Tuy nhiên, kể từ khi thương chiến Mỹ – Trung diễn ra, sự xuất hiện của các DN dệt may Trung Quốc tại VN với lượng tuyển dụng từ hàng nghìn đến hàng chục nghìn lao động mỗi công ty đã đẩy giá nhân công tăng mạnh. Đây rõ ràng là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp dệt may trong nước.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Dệt May năm 2019 phấn đấu đạt mục tiêu xuất khẩu 40 tỷ USD

Bước vào năm 2019, kinh tế thế giới tiềm ẩn những diễn biến rất khó lường. Cuộc chiến thương mại Mỹ- Trung chưa đi đến hồi kết, còn nhiều ẩn số, những điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến thị trường xuất khẩu dệt may thế giới.

Hơn nữa, một trong những rủi ro mà Việt Nam phải đối mặt trong năm 2019 là lãi suất tăng. Một số nước thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất, như Mỹ hoặc EU, Nhật Bản, lãi suất toàn cầu tăng lên tác động đến tỷ giá và dòng vốn đầu tư sẽ dịch chuyển từ khu vực lãi suất thấp sang khu vực có lãi suất cao, tổng cầu của thị trường thế giới sẽ giảm và áp lực sẽ chuyển sang lãi suất tiền vay.

Tuy nhiên, trong thách thức luôn có cơ hội. Nói về cơ hội với ngành dệt may trong năm 2019, ông Lê Tiến Trường- Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt May Việt Nam- cho rằng, lợi thế dành cho Việt Nam đến từ CPTPP với hai thị trường xuất khẩu dệt may tiềm năng là 20 tỷ USD của Canada và 40 tỷ USD của Úc. Việt Nam hiện mới chỉ có 4-5% từ các thị trường này. Nếu kịch bản tốt, 6 tháng cuối năm 2019 sẽ có thêm thị trường EU, từ đó có thể tăng thêm khoảng 1 tỷ USD. Chính vì thế đứng trong phương án giữ được các thị trường xuất khẩu chính ổn định, hiệp định EVFTA đi vào hiệu lực, tận dụng tốt CPTPP, ngành dệt May Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu 40 tỷ USD trong năm 2019.

Cùng với đó, ngành dệt may đặt mục tiêu phải vừa tăng trưởng đảm bảo lợi nhuận hiệu quả, đồng thời đảm bảo bền vững việc làm cho người lao động. Nếu như trước đây, mỗi năm, ngành dệt may đặt mục tiêu là tạo thêm việc làm, còn hiện nay, mục tiêu đã thay đổi, đó là phải tạo việc làm bền vững và được người lao động trên thị trường chấp nhận- ông Lê Tiến Trường nhấn mạnh.

Xuất khẩu và thị trường nội địa song hành

Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu của Tập đoàn Dệt May Việt Nam đạt 3,05 tỷ USD. Đáng chú ý, mặc dù kim ngạch xuất khẩu tăng 11% so với cùng kỳ năm 2017, nhưng lợi nhuận của Tập đoàn lại đạt trên 30% do đã dịch chuyển được chất lượng đơn hàng. Đây là kết quả của một chuỗi nỗ lực, được khởi động từ năm 2015 cho đến nay. Năm 2018, Tập đoàn tập trung vào tái đầu tư nhưng không theo chiều rộng mà chú trọng về chất lượng xuất khẩu, phát triển theo hướng bền vững. Kiên trì theo đuổi mục tiêu chiến lược, đó là tăng trưởng chất lượng và bền vững, Tập đoàn chú trọng vào chất lượng đơn hàng, đáp ứng những đơn hàng khó, đòi hỏi tay nghề cao, giao hàng đúng thời hạn.

Đặc biệt, cùng với đẩy mạnh xuất khẩu, Tập đoàn và các thành viên tiếp tục chú trọng mở rộng thị trường nội địa. Ông Cao Hữu Hiếu cho hay, với chiến lược phát triển song hành, cả xuất khẩu và thị trường nội địa, các đơn vị của Tập đoàn như: May 10, May Đức Giang- dệt Phong Phú, Việt Tiến, May Nhà Bè, nhiều năm nay đã chú trọng xây dựng và phát triển các thương hiệu thời trang trong nước với các mẫu thiết kế mới bắt kịp xu hướng thời trang thế giới, được người tiêu dùng rất ưa chuộng như: S.pearl của Tổng công ty Đức Giang, Grusz của Tổng Công ty May 10, Merriman của Tổng Công ty Hòa Thọ, Mattana của Tổng Công ty Nhà Bè… Đây là bước đi đúng hướng của ngành dệt may Việt Nam, tập trung vào khâu thiết kế mẫu mã để nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm. Năm 2019, Tập đoàn tiếp tục phát triển thiết kế thời trang cho từng lứa tuổi, đa dạng hóa kiểu dáng cũng như nguyên liệu đầu vào, phân khúc thị trường, nhằm chiếm lĩnh thị trường nội địa.

Cùng với đó, Tập đoàn cũng đang tiến hành xây dựng thương hiệu cho ngành sợi để định vị trên thị trường may quốc tế; phấn đấu giữ vị trí TOP 5 nhà sản xuất được khách hàng ưu tiên lựa chọn đặt hàng- ông Cao Hữu Hiếu khẳng định.

Ông Lê Tiến Trường- Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt May Việt Nam: Năm 2019, ngành dệt may Việt Nam phấn đấu đạt 40 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu. Đây là mục tiêu rất cao. Trong bối cảnh thế giới nhiều biến động như hiện nay, để đạt được mức tăng trưởng 10% xuất khẩu, doanh nghiệp dệt may cần đưa ra các giải pháp cụ thể với từng kịch bản thị trường, liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp sợi, vải để cùng vượt qua các khó khăn thách thức biến động thị trường.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Kích cầu ngành công nghiệp vũ khí Mỹ

Đêm 13/4, rạng sáng 14/4, Mỹ và hai đồng minh Anh, Pháp đã tiến hành cuộc không kích Syria để đáp trả cáo buộc chính phủ Tổng thống Assad sử dụng vũ khí hóa học khiến gần 70 dân thường thiệt mạng tại một thị trấn ở Syria hôm 7/4.

Ba mục tiêu chính của vụ tấn công là 1 trung tâm nghiên cứu khoa học ở Damascus, 1 cơ sở lưu trữ vũ khí hóa học ở phía tây Homs, và 1 khu khác cùng các điểm chỉ huy gần đó.

Lầu Năm Góc khẳng định vào buổi sáng 15/4 rằng liên quân đã phóng ra tổng cộng 105 tên lửa. Đáp lại, Syria khẳng định không quân của họ đã đánh chặn thành công 71 tên lửa hành trình. Trong khi đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói cuộc không kích vào Syria là “thành công hoàn hảo” và “kết quả không thể tốt hơn”.

Trước đó, tờ Washington Post dẫn thông tin từ một quan chức giấu tên của Bộ Quốc phòng, vụ tấn công sử dụng các vũ khí được phóng từ máy bay và tàu hải quân Mỹ, bao gồm khoảng 100 tên lửa hành trình Tomahawk.

Theo CNBC, mỗi tên lửa Tomahawk trị giá khoảng 1,4 triệu USD. Với khoảng 100 quả được phóng, chính phủ Mỹ đã tiêu tốn tầm 140 triệu USD.

Theo dữ liệu của SIPRI, trong giai đoạn 2012-2016, Mỹ xuất khẩu ước tính 47,16 tỷ USD vũ khí và thiết bị quân sự, là nước có kim ngạch xuất khẩu quốc phòng lớn nhất thế giới. Kế đó là Nga với 33,18 tỷ USD và Trung Quốc với 9,13 tỷ USD. Trong 10 tập đoàn quốc phòng lớn nhất thế giới, có 7 tập đoàn của Mỹ; trong 3 tập đoàn lớn nhất, 2 là của Mỹ gồm Lockheed Martin, Boeing và một của Anh là BAE Systems.

Ớn lạnh trước dàn vũ khí tỷ USD Mỹ và Nga trưng ở Syria

Năm 2017, ngân sách cho quốc phòng Mỹ là 582,7 tỷ USD. Khi lên nắm quyền, ông Donald Trump chủ trương đặt an ninh quốc gia là một trong những ưu tiên của mình và đã “ngáng chân” người tiền nhiệm khi tuyên bố ủng hộ đánh giá lại ngân sách quốc phòng.

Ngày 27/2, Tổng thống Mỹ đã đề xuất “một khoản tăng lịch sử” cho quốc phòng năm 2018 để “kiến thiết lại” quân đội và để đối phó với các mối đe dọa của một thế giới “nguy hiểm”. Mục tiêu là đạt đến 603 tỷ USD vào năm 2018.

Ngay lập tức, thông báo trên đã khiến cổ phần của các công ty có hợp đồng với Lầu Năm Góc tăng lên. Nhưng với thượng nghị sĩ Cộng Hòa John McCain, kiêm chủ tịch Ủy ban Quân sự tại Thượng Viện, khoản tăng đó vẫn chưa đủ và ông yêu cầu phải tăng thành 640 tỷ USD cho năm 2018.

Không dừng lại ở con số này, chính quyền Tổng thống Donald Trump còn dự kiến sẽ đề xuất lên quốc hội bản kế hoạch ngân sách quốc phòng cho năm 2019 với tổng trị giá lên tới 716 tỷ USD.

Khi ra lệnh bắn cả trăm tên lửa Tomahawk, mỗi tên lửa trị giá hơn 1 triệu USD, Tổng thống Mỹ đã gửi tín hiệu tích cực mới đến một trong số các tập đoàn công nghiệp có thế lực của Mỹ. Quyết định trên cũng được hiểu là lời hứa một tương lai xán lạn cho ngành công nghiệp vũ khí.

Một trong những lời hứa tranh cử của ông Trump là làm cho “nước Mỹ lại vĩ đại”. Có nhiều cách hiểu tuyên ngôn này. Với ông Trump là đưa sản xuất trở lại, là lợi ích Mỹ trên hết, và cả tăng cường đầu tư quốc phòng.

Vốn xuất thân là một thương gia tài ba, ông Trump sẽ luôn luôn tính toán nước Mỹ sẽ được gì trong bất kỳ thương lượng nào với một nước khác.

Dầu mỏ – mục tiêu của Mỹ ở Syria thời hậu chiến

Theo báo cáo của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), sự bất ổn tại Syria và Yemen đã giúp đẩy giá dầu thô Brent vượt quá mức 70 USD/thùng.

Trong phiên giao dịch cuối tuần (13/4), giá dầu Brent đóng cửa tăng 56 xu Mỹ lên 72,58 USD/thùng, trong khi giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 32 xu Mỹ lên 67,39 USD/thùng.

Theo các chuyên gia, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông đang là nhân tố đẩy giá dầu lên cao hơn.

Mặc dù Syria không phải nước khai thác dầu lớn, nhưng nước này nằm gần eo biển Hormuz – trạm trung chuyển quan trọng với hàng triệu thùng dầu đi qua mỗi ngày.

Liên quan tới vai trò của Mỹ tại Syria, các chuyên gia ngay từ đầu đã nhận định, kiểu gì Mỹ cũng sẽ không rút quân. Ngày 2/4, ông Barýs Doster, nhà nghiên cứu chính trị tại Đại học Marmara của Thổ Nhĩ Kỳ, nhấn mạnh rằng, ít có khả năng Mỹ sớm rút quân khỏi Syria.

Mỏ dầu Rmeilane thuộc tỉnh Hasakah (Syria).

Mỹ đã cung cấp cho các nhóm người Kurd 5.000 xe tải với vũ khí và có kế hoạch sử dụng các nhóm này để thành lập quân đội chính quy lên tới 50.000 người. Bây giờ trên lãnh thổ Syria có 20 căn cứ của Mỹ. Sau khi đầu tư những khoản tiền lớn như vậy, chắc chắn người Mỹ sẽ không rời khỏi Syria trong tương lai gần, ông nói.

Quả đúng như vậy, ngày 3/4 (giờ Mỹ), Tổng thống Trump đã tuyên bố trong một cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia sẽ tiếp tục duy trì binh sĩ tại Syria. Ông Trump cho rằng cuộc chiến chống IS chưa thể kết thúc. Ông Trump tuyên bố Mỹ cần duy trì lực lượng tại Syria ít nhất thêm 2 năm nữa.

Trong khi Tổng thống Nga Putin tuyên bố đã sạch bóng IS thì tại sao Tổng thống Mỹ Donald Trump lại tuyên bố Mỹ không muốn rút quân để chống IS. Hay đó chỉ là cái cớ để Mỹ ở lại. Nếu vậy, Mỹ ở lại là vì cái gì?

Theo hãng tin Sputnik, trong Hội nghị An ninh Quốc tế tại Moscow (Nga), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Syria, ông Mahmoud al-Shawa đã cáo buộc Mỹ đang có ý đồ thiết lập kiểm soát đối với các mỏ dầu ở Syria.

Ông Mahmoud al-Shawa cho biết Mỹ đã “quyết định tạo ra nhiều lý do khác nhau để biện minh cho sự tồn tại bất hợp pháp của căn cứ và quân đội của nước này trên lãnh thổ Syria để thiết lập quyền kiểm soát và thống trị các mỏ dầu của Syria”. Vị Thứ trưởng cũng cáo buộc Mỹ duy trì tổ chức khủng bố IS tại Syria nhằm phục vụ mục đích này.

Vị quan chức này cũng lưu ý rằng sau khi các lực lượng của Nga và Iran “tham gia kết thúc cuộc chiến tại Syria ” thì Mỹ đã tăng cường sự hiện diện của mình ở phía bắc Syria.

Liên quân do Mỹ lãnh đạo bao gồm hơn 70 quốc gia thành viên đang tiến hành các hoạt động quân sự ở Syria và Iraq. Các hoạt động quân sự này được chính phủ Iraq ủng hộ, nhưng chính quyền Damascus lại lên tiếng phản đối sự hiện diện quân sự bất hợp pháp này.