Đăng bởi Để lại phản hồi

Ví dụ về khe hở lãi suất

       Nếu không có khe hở thanh khoản, khe hở lãi suất cố định và khe hở lãi suất thả nổi giống nhau theo giá trị tuyệt đối, Khe hở thanh khoản tạo ra khe hở lãi suất. Tiền dư sẽ được đầu tư và thâm hụt sẽ được cấp vốn vào một thòi điếm trang lai với lãi suất chưa biết. Thâm hụt dự kiến bằng với nợ nhạy với lãi suất. Thặng dư tương đương với tài sản nhạy với lãi suất.

       Trong ví dụ này, khe hở lãi suất thay đối trước và sau thâm hụt khác nhau một khoảng bằng khe hở thanh khoản, tương đương với nợ lãi suất thả nổi:

khe hờ lãi suất thả nổi trước khe hở thanh khoản = 40 – 35 = 5
khe hở lãi suất thả nổi sau khe hở thanh khoản = 5 – 40 = -35
Nói chung, cấp vốn sau của khe hở lãi suất thả nổi bằng khe hở lãi suất thả nổi trước cấp vốn trừ đi khe hở thanh khoản.

 lãi suất


       Cấp vốn sau của khe hở lãi suất thả nổi = khe hở lãi suất thả nổi trước cấp vốn I khe hở thanh khoản = 5 – 40 = -35

        Báo cáo khe hở mẫu sử dụng số dư trung bình của tài sản và nợ trong mỗi dải thời gian. Trục X là thời gian, phép tính ở đây được thực hiện trên cơ sở một tháng hoặc ngắn hon. Tài sản và nợ ở đây mang lãi suất cố định. Giống như khe hở thanh khoản, khe hở lãi suất chi cho thây tài sản và nợ hiện nay. Phần trên là tài sản và phần dưới là nợ, hiệu của chúng tạo thành khe hở lãi suất. Hình 23.2 cũng cho thây lãi suất trung bình dự kiến của tài sản và nợ có lãi suất cố định.

        Những biểu đổ này có Tất nhiều dữ liệu nhưng những tính toán cơ bản vẫn rất đơn giản.Những mô hình nội bộ tạo ra khả năng phóng to khe hở và tìm ra những giao dịch nào góp phần tạo nên khe hở. Chúng có thể được phân loại dựa theo loại sản phẩm, ví dụ vay tiêu dùng, vay thế chấp…

Đăng bởi Để lại phản hồi

Ma trận của thu nhập lãi thực

    Khi lãi suất là 8%, NII là 1,80 với kịch bản A và B. Bắt đầu với cùng một NII ban đầu cho A và B khi lãi suất bằng 8%, ta tính ra sự thay đổi NII từ công thức khe hở và những giá trị mói của NII cho cả kịch bản kinh doanh khi lãi suất tăng.

     Sự thay đổi của NII khi lãi suất thay đổi Ai – 3% là A, NII khe hở X Ai. Ví dụ với kịch bản A, NII ban đầu là 1,80, khe hở lãi suất thả nổi là 0 với phòng hộ HI và +4 với phòng hộ H2. Với H1, NAII không thay đổi và với H2, nó tăng lên 4×3% = 0,12 thành 1,92. Phòng hộ như vậy cũng tính ra giá trị của NII với kịch bản B; NII cố định với kịch bản B và giảm -4 X 3% = -0,12 từ 1,80 xuống 1,68 với kịch bản A. Ta tóm tắt kết quả ở bảng 24.9.

      Với mỗi ma trận, ta tính giá trị trung bình của biến, độ biến động và tỷ số Sharpo giữa giá trị kỳ vọng NII và độ biến động. Tỷ số này là một thước đo điều chỉnh theo rủi ro của khả năng lợi nhuận. Giải pháp đầu tiên tạo ra NII trung bình thấp hơn với cùng rủi ro. Phòng hộ thứ hai tạo ra NII trung bình cao hơn với cùng rủi ro. Do đó, phòng hộ thứ hai tốt hơn.

lãi suất


        Nhìn chung, ta có thể khảo sát nhiều giải pháp phòng hộ kết hợp với nhiều kịch bản lãi suất và kinh doanh. Khi vẽ đổ thị trên không gian thu nhập-rủi ro, chúng ta nên một đám mây các điểm. Mỗi điểm tóm tắt một ma trận kết hợp tất cả các giá trị biến mục tiêu ứng với mỗi sự kết hợp các tình huống. Tuy số lượng các mô phỏng lớn, thay đổi cách phòng hộ chi dịch chuyền các điểm “tóm tắt” trong không gian thu nhập-rủi ro.

        Những giải pháp “không hiệu quả” có NII kỳ vọng thấp hơn các giải pháp khác, ở cùng mức độ rủi ro hoặc có cùng NII kỳ vọng nhưng rủi ro cao hơn. Chúng ta chỉ cần cân nhắc những giải pháp tốt nhất. lạp hợp những giải pháp này được gọi là “đường biến hiệu quả”. Trong trường hợp cụ thể này, ta chỉ đơng xem xét hai tình huống kinh doanh và một phòng hộ đơn giản trong một kỳ. Khe hở thay đổi tuyến tính với mệnh giá của hợp đổng hoán đổi dùng để phòng hộ. Thay đổi của NII là một hàm tuyên tính của khe hở này. Nhưng phương sai của những thay đổi đó tùy vào bình phương giá trị phòng hộ với một thay đổi lãi suất nhất định.

        Do đó, mối quan hệ giữa kích thước phòng hộ là parabol, như ở hình 24.5. Hình 24.6 biểu thị tốt han điều gì xảy ra với nhiều kịch bản và nhiều kỳ. Sự kết hợp thu nhập-rủi ro sẽ hiệu quà nếu không có giải pháp nào tốt hơn ở một thu nhập hay mệt rủi ro nhất định. Tiêu chí hiệu quả dẫn tới một số sự kết hợp thay vì chỉ có một. Vấn đề tối ưu hóa như sau:
• giảm thiểu độ biến động của biến ứng với một thu nhập cố định
• cực đại hóa biến kỳ vọng ứng với một rủi ro cố định

      Với mỗi thu nhập,có một giải pháp tối ưu. Khi rủi ro hay thu nhập thay đổi, giải pháp tối ưu dịch chuyển trên đường biến hiệu quả. Để chọn giải pháp, một mức độ rủi ro phải được đặt ra. Ví dụ, rủi ro tối thiểu dẫn tới trường hợp ở phía tay trái gần với đường biến hiệu quả. Khi cả rủi ro lãi suất và rủi ro kinh doanh tương tác, những giải pháp trung hòa rủi ro biến không tổn tại. Tuy nhiên, một giải pháp rủi ro tồi thiểu có tổn tại. Nói chung, một-ngân hàng muốn những giải pháp tăng đáng kể NII kỳ vọng và tỷ số Sharpe.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Những quy định về vốn dựa trên rủi ro

     Cơ sở vốn không chỉ giới hạn cho cổ phần cộng với thu nhập được giữ lại. Nó bao gồm bất kỳ khoản nợ nào phụ thuộc vào những cam kết của ngân hàng. Cổ phần đại diện cho ít nhất 50% cơ sở vốn đối với rủi ro tín dụng. Cổ phần còn được gọi là “vốn chủ chốt”.
     Tỷ số Cooke quy định rằng cơ sở vốn phải bằng ít nhất 8% tài sản gia quyền. Trọng số phụ thuộc vào chất lượng tín dụng của người đi vay và giao dịch. Đối với rủi ro thị trường, các quy tắc phức tạp hơn vì các quy định có mục tiêu nhắm vào kinh tế học của rủi ro thị trường, lợi dụng thông tin về các thông số và giá cả thị trường. Ý tưởng chính là giống nhau, xác định khoản chi phí vốn tối thiểu như lạ một hàm số của rủi ro, đánh giá bởi những quy tắc chi phí vốn hoặc mô hình dựa trên Var đối với rủi ro thị trường. Sau khi các mô hình dựa trên Var của ngân hàng được phê chuẩn vào năm 1996-1997, chúng trờ nên rất phổ biến trong ngành ngân hàng từ cuối thập niên 90.

vốn dựa trên rủi ro

Các yếu cầu vốn

     Theo truyền thống, vốn chỉ là một phần rất nhỏ trong tổng tài sản của các ngân hàng, đặc biệt khi so sánh yếu cầu tối thiểu với những tỷ lệ tương tự của những tổ chức phi tài chính khác. Tỷ lệ vốn bằng 8% tài sản bằng với tỷ số đòn bẩy (tỷ số nợ/ cổ phần) là 92/8=11,5. Đòn bẩy lớn bắt nguồn từ nhiều nhân tố. Hoạt động trơn tru của ngân hàng đỏi hỏi tiếp cận dễ dàng và ngay lập tức với các thị trường tài chính, miễn là rủi ro chấp nhận được.
     Tỷ số 8% của vốn so với tài sản có vẻ quá cao nêu so sánh với tỷ lệ vỡ nợ trung bình trong điều kiện thuận lợi, và có thể quá thấp cho những danh mục đầu tư với những người đi vay rủi ro cao trong điều kiện khó khăn. Nhưng tỷ số 8% là họp lý khi tính tới hiệu ứng phân tán hóa. Tỷ số này cho thây những nhà làm luật ước lượng một ngân hàng không thể thua lỗ hơn 8% danh mục đầu tư đối với rủi ro tín dụng, sau khi đã tính tới phân tán hóa.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Kiểm soát rủi ro phủ đầu so với bảo hiểm rủi ro

     Kiểm soát rủi ro nên mang tính phòng ngừa, trong khi bảo hiểm là thụ động, tức là sau khi sự việc xảy ra. Bảo hiểm tiền gửi tồn tại ở phần lớn các nước, đế đảm bảo an toàn cho người ký gửi. Nhưng bảo hiểm rủi ro tạo ra “rủi ro đạo đức” và gây ra xu hướng chấp nhận rủi ro. Về lý thuyết, nếu những người ký gửi có tiền gặp rủi ro với ngân hàng, họ sẽ theo dõi hành vi ngân hàng chặt chẽ. Trong thực tế nếu tiền ký gửi gặp rủi ro, bất kỳ dâu hiệu nào của rủi ro tăng cũng dẫn tới việc rút tiền và càng gây thêm khó khăn, có thể dẫn tới phá sản. Những cuộc tháo chạy ngân hàng đó lại xảy ra vào năm 2008. Đây là một lý do phải bảo hiểm những người gửi tiền khỏi phá sản ngân hàng, nhưng điều này là không đủ.
     Bảo hiểm bổ sung cho những chính sách phủ đầu để ngăn cản việc chấp nhận quá nhiều rủi ro và phòng tránh phá sản. Đối với nhà làm luật, mục tiêu là giảm thiểu rủi ro phá sản thay vì xử lý sau khi điều đó đã xảy ra. Giải pháp lý thuyết là các công ty tài chính kiểm soát rủi ro của họ trong những giới hạn cho phép. Nhà làm luật đặt ra các quy định dựa vào những mục tiêu đó. BIS (Ngân hàng Quyết toán quốc tê) BIS ở Basel đưa ra những quy định mới và những nhà làm luật quốc gia sẽ tiếp thu để thực thi chúng trong môi trường trong nước.

Kiểm soát rủi ro

Vốn thỏa đáng

     Một số quy định với mục đích giới hạn rủi ro một cách đơn giản đã có hiệu lực trong thòi gian dài. Ví dụ, một số tỷ số phải có những giới hạn tôi thiểu. Tỷ số thanh khoản yếu cầu tài sản ngắn hạn phải lớn hơn nợ ngắn hạn và tỷ số giữa khoản vay dài hạn với Khoản nợ dài hạn phải đạt một giá trị tối thiểu ở châu Âu.
Những tỷ số đó giới hạn rủi ro lệch hạn nhưng dần biến mất trong những thời kỳ cấp
Vốn đễ dàng. Sau năm 2008 chúng lại một lần nữa được nhìn nhận như một điều cần thiết.
    Cột trụ chính của những quy định mới là “vốn thỏa đáng”. Bằng cách áp đặt một lượng vốn phù hợp với rủi ro, các nhà làm luật tập trung vào rủi ro phá sản. Vốn dùng để bảo vệ các ngân hàng khỏi những thua lỗ không dự đoán được, những thua lỗ vượt trên thua lỗ dự đoán từ thống kê. Dự phòng thua lỗ tạo ra sự bảo hộ đầu tiên cho rủi ro tín dụng. Nhưng những thua lỗ vượt trên thua lỗ kỳ vọng sẽ làm ngân hàng sụp đổ nêu không đủ vốn. Hệ quả logic là vốn cần phải đủ để đáp ứng những thua lỗ không đoán trước, vượt quá những thua lỗ dự kiên.
    Các chi đạo được định ra bởi một nhóm các nhà làm luật trong cuộc họp ở Basel tại Ngân Hàng Quyết Toán Quốc tế (BIS) do đó được gọi là Hiệp ước Basel. Hiệp ước đầu tiên cần thực thi tập trung vào rủi ro tín dụng với tỷ số Cooke nổi tiếng. Tỷ số này đòi hỏi vốn tồì thiểu là một phần trăm cố định của tài sản. Phạm vi của các quy định mở rộng liên tục sau đó. Sự mở rộng ra rủi ro thị trường là một bước tiến lớn đối với rủi ro thị trường vào năm 1996-1997 bởi vì nó cho phép các ngân hàng sử dụng các mô hình giá trị gặp rủi ro đế đánh giá chi phí vốn cho rủi ro thị trường. Hiệp ước Basel 2 tháng 1 năm 2007 tăng cường đáng kể những quy định về rủi ro tín dụng. Lịch trình của những hiệp ước như sau:
• 1988: hiệp ước hiện tại được xuất bản
• 1996: Sửa Đổi Rủi Ro Thị Trường cho phép sử dụng những mô hình nội bộ
• 1999: Gói tư vấn đầu tiên về Hiệp Ước mới
• 2007: thực thi Hiệp Ước vốn Basel 2
     Những mục tiếp theo nói về hiệp ước 1988 và những quy định vốn rủi ro thị trường. Chương tiếp theo nói về Hiệp Ước mới, làm rõ hơn những yếu cầu về vốn cho rủi ro tín dụng.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Phương pháp thu nhập gặp rủi ro (Var)

     Một phương pháp phù hợp để đo lường bách phân vị thua lỗ là “thu nhập gặp rủi ro” hay Var, dựa trên phân phối lịch sử của thu nhập. Phân tán của chuỗi thời gian thu nhập càng lớn thì rủi ro càng cao. Thu nhập gặp rủi ro có nhược điểm và ưu điểm.
     Có thế dùng một vài thước đo thu nhập: thu nhập kế toán, biến lãi suất, biến thương mại, dòng tiền và giá trị thị trường, đặc biệt cho danh mục đầu tư trao đổi. Tất nhiên, tập họp dữ liệu càng lớn thì thước đo càng có giá trị. Khái niệm áp dụng với danh mục đầu tư toàn ngân hàng. Sau khi có phân phối thu nhập, tính ra bách phân vị thua lỗ rất đơn giản bằng cách tìm những thua lỗ xảy ra hoặc bị vượt quá với một xác suất nhất định.
     Lợi ích chính của Var là khá dễ để đo lường vì được tính toán từ dữ liệu kế toán. Có một số khó khăn kỹ thuật. Ví dụ, phép tính độ biến động có những vấn đề kỹ thuật ví dụ khi chuỗi thời gian của một xu hướng nhìn có vẻ rất bất ổn định. Trong thực tế, độ biến động đến từ xu hướng thay vì từ độ không ổn định. Do đó, những thay đổi tương đối hoặc phần trăm của thu nhập là thước đo độ biến động tốt hơn. Kỹ thuật này cần một số giả định, nhung vẫn khá đơn giản.

thu nhập gặp rủi ro


    Var đưa một số kết quả. Độ biến động thu nhập chỉ ra độ lớn của các thay đổi. Độ giảm của độ biến động thu nhập đo lường hiệu ứng phân tán hóa. Vốn là một bách phân vị thua lỗ. Khó có phương pháp nào đơn giản hơn có thế đưa những kết quả này.
     Tuy nhiên, nhược điểm chính của Var liên quan tới quản lý rủi ro. Var không thể tìm ra nguồn gốc rủi ro khiên cho thu nhập bất ổn. Nhiều loại rủi ro có thể xảy ra đổng thời nhưng vai trò của những rủi ro này với phân phối thu nhập vẫn là một ẩn số. Không giống như các mô hình Var, Var phản ánh rủi ro như là kết quả chung của tất cả mọi rủi ro. Var không cho phép tìm nguồn gốc của rủi ro, thị trường, tín dụng hay lãi suất. Var là một công cụ bổ sung cho quản lý rủi ro nhưng không thể thay thế cho những công cụ khác.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Liên hệ lãi suất với những nhân tố rủi ro

          Hạn mức không có kỳ hạn
       Cũng như với khe hở thanh khoản, khe hở lãi suất đòi hỏi kỳ hạn. Với những hạn mức không có kỳ hạn, la có thể dùng kỳ hạn thực tế nếu nó khác kỳ hạn hợp đổng hoặc khi không có kỳ hạn. Các quy ước có thể sẽ có ích, ví dụ với tiền ký gửi yêu cầu, nhưng sẽ không thể giải quyết được vân để này. Cần nhiều kịch bản kinh doanh và chúng đòi hỏi mô hình.

       Khó có thể xử lý hết các lãi suất dùng để làm tham chiêu cho tài sản và nợ. Các ngân hàng chỉ lựa chọn một vài nhân tố rủi ro. Những lãi suất không ứng với các lãi suất tham chiếu lựa chọn đó có tương quan với chúng tuy không hoàn toàn. Sừ dụng số lượng nhở các lãi suất được lựa chọn đòi hỏi ứng tất cả các khoản trên bảng cân đối với chúng.

       Quá trình này tạo ra rủi ro ca sở do sự khác biệt giữa lãi suất lựa chọn và lãi suất thực. Một giải pháp là Hên hệ lãi suâìt thực theo phân khúc sản phẩm với lãi suất tham chiếu lựa chọn và sử dụng độ nhạy để tĩnh những khe hở tiêu chuẩn hóa.

lãi suất


        Các kỹ thuật thống kê sẽ tính ra độ nhạy. Lãi suất thu nhập trung bình của một tiểu danh mục đầu tư, ví dụ cho một dòng sản phẩm, là tỷ lệ giữa doanh thu (hoặc chi phí) lãi suất so với tổng số dư. Có thể xây dựng chuỗi thời gian của những lãi suất trung bình đó trên số các giai đoạn cần thiết. Một đường khớp thống kê với dữ liệu quan sát sẽ xác lập mối quan hệ giữa lãi suất trung bình của danh mục đầu tư với các lãi suất được lựa chọn. Một quan hệ tuyên tĩnh. Hệ số Pt là độ nhạy của lãi suất danh mục đầu tư với chỉ số. £ là thay đổi ngẫu nhiên giữa dữ liệu thực và mô hình được khớp. Chi số thị trường thay đổi 1% tạo ra thay đổi trong lãi suat danh mục đầu tư băng X 1%. Đó là rủi ro cơ sở, nhưng không tĩnh tới sai số còn sót lại.

         Một khe hở tiêu chuẩn hóa lây trọng số của tài sản và nợ bằng độ nhạy của chúng với lãi suất tham chiếu. Ví dụ, nếu thu nhập của một phần khoản vay có độ nhạy 0,8 với lãi suất thị trường ngắn hạn, nó sẽ có trọng số 0,8 trong phép tĩnh khe hở.

         Một giải pháp khác là dùng trực tiếp lãi suất tham chiếu của các hợp đồng ở cấp độ giao dịch riêng lẻ. Phần mềm quản lý nợ tài sản có khả năng tĩnh chính xác những ngày đặt lại lãi suất với nhiều lãi suất tham chiếu miễn là ngân hàng có thông tin.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Chênh lệch thương mại

        Chênh lệch thương mại là hiệu giữa lãi suất khách hàng và lãi suất thị trường. Chúng được biểu thị bằng phần trăm lượng tài sản và nợ. Biên thương mại dựơng với cho vay nghĩa là ngân hàng cho vay với lãi suất cao hơn thị trường. Biên thương mại âm với nợ nghĩa là lãi suất trả cho khách hàng cao hơn lãi suất thị trường.

       Ví dụ, chênh lệch thương mại là 3% đối với tài sản và -3% đối với nợ. Điều đó có nghĩa là lãi suất khách hàng trung bình đối với tài sản 3% cao hơn thị trường, và lãi suất khách hàng với tiền ký gửi kỳ hạn hoặc yêu cầu thâp hơn 3% so với lãi suất thị trường. Khi lãi suất thị trường là 8%, những lãi suất đó là 11% và 3%. Trong thực tế, biên phẩn trăm tùy vào loại tài sản hay nợ, nhưng tính toán vẫn giống nhau cho các sản phẩm với chênh lệch khác nhau.

        Trước khi đóng khe hở thanh khoản, biên thương mại xuất phát từ lãi suất khách hàng và số dự của tài sản và nợ trong danh mục đầu tư ngân hàng:
36 X 11% – 24 X 5% = 3,96 -1,20 = 2,76

        NU của ngân hàng khác biên thương mại vì NH là sau khi cấp vốn. Chi phí cấp vốn mang lãi suất thị trường. Vì cấu trúc kỳ hạn phẳng, chi phí cấp vốn không tùy thuộc vào kỳ hạn trong ví dụ này. NH sau khi cặp vốn cho khe hở thanh khoản là NII thương mại trừ đi chi phí cấp vốn cho thâm hụt 12. Chi phí đó là 8% X12 = 0,96. Do đó, NII của ngân hàng là 2,76 – 0 96 = 1,80.

Chênh lệch thương mại


        Độ nhạy của Nll và khe hở lãi suất
       Phần trăm vẫn giữ nguyên khi lãi suất thay đổi vì chúng được cố định vào lúc bắt đẩu giao dịch. Chú ý nếu ta sử dụng mô hình bảng cân đối kế toán cho các mục đích lên ngân sách, ta sẽ coi chênh lệch thương mại là đầu vào và biên chúng thành một hàm của chính sách kinh doanh của ngân hàng.

        Với những khoản không nhạy với lãi suất, lãi suất của khách hàng không thay đổi khi lãi suất thị trường thay đổi. Với những khoản nhạy với lãi suất, thay đổi trong lãi suất khách hàng giống với thay đổi lãi suất thị trường vì chênh lệch thương mại là cố định. Giá trị của NII sau khi thay đổi lãi suất từ 8% thành 11% xuất phát từ lãi suất khách hàng mới sau khi lãi suất thị trường tăng. Nó sẽ nhất quán với khe hở lãi suất được tính ở phẩn trước.

      Giá trị của biên thương mại, trước và sau khi lãi suât tăng là 2/76 và 3/00, Sự thay đổi này nhất quán với mô hình khe hở. Sự thay đổi trong biên thương mại là 0/24% khí lãi suất tăng 3%. Theo mô hình khe hờ, thay đổi này cũng bằng chênh lệch 131 lãi suất nhân với thay đổi trong lãi suất. Chênh lệch lãi suất của danh mục đẩu tư thương mại là 8 và thay đốí của biên là 8 X 3% = 0,24, phù hợp với phép tính trực tiếp.

      NII sau khi tính chi phí cấp vốn, giảm 1,80 -1,68 = 0,12. Điểu này là vỉ chí phí cấp vốn của khe hở thanh khoản mang lãi suất thị trường và tăng 12 X 3% ” 0,36. Biên thương mại tăng 0,24, trừ khi lượng tăng chi phí cấp vốn tạo thành sự thay đối 0,12, Khe hở lãi suất sau khi cấp vốn là khe hở lãi suất của danh mục đẩu tư thương mại trừ khí lượng cấp vốn, hay 8 – 12 = -4. Khe hở này nhân với 3% sẽ tạo thành thay đối biên -0,12.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Mô hình khe hở

       Khe hở lãi suất được sử dụng rất rộng rãi vì nó đo lường độ nhạy của thu nhập lãi thực (NII) với sự thay đổi lãi suất, vào thời điểm này, hãy giả định rằng tất cả các lãi suất không biết hôm nay sẽ thay đổi cùng một lượng (dịch chuyển song song).

       Khi khe hở lãi suất thả nổi (tài sản nhạy với lãi suất trừ đi – nợ nhạy với lãi suất) là số dương, lượng tài sản nhạy với lãi suất lớn hơn lượng nợ nhạy với lãi suất. Nếu cả tài sản và nợ có chung chỉ số, NII tăng với lãi suất. Khi khe hở lãi suất thả nổi là số âm, NII giảm khi lãi suất tăng. Nếu khe hở bằng 0 thì NII không phản ứng với những thay đổi lãi suất khe hở lãi suất thả nổi là độ nhạy của NII với lãi suất.


       Giả định rằng có một tham chiếu duy nhất và thay đổi giống nhau. Các quy định áp đặt phải thử nghiệm hiệu ứng của dịch chuyến (lụng thay đối 1% hoặc 2%. Tuy nhiên, vì có nhiều tham biến, các khe hở cũng bằng số các lãi suất tham chiếu, chia nhỏ khe hở lãi suất thả nổi thành các khe hở thì tất cả các tham chiếu sẽ giúp tính độ nhạy của NII với những tham chiếu này, ví dụ (Ytc ISI suất với những kỳ hạn khác nhau.

       Khe hở được tính trên dài thời gian, ví dụ một năm. Thay đổi lãi tích lũy mô phỏng với khe hở giả định rằng ngày xác lập lợi lãi suất xảy ra vào ngày bắt đẩu dải thời gian. Nếu ngày đặt lại lãi suất gần cuối tháng, thay đổi doanh thu hoặc chi phí lãi sẽ bị ước lượng quá cao, Thay đổi chính xác của NII phụ thuộc vào độ tập trung của những ngày đặt lại vào những thời điếm không phái là đẩu tháng. Phụ lục chỉ ra phép tính chính xác của NII khi khe hở lãi suất bằng 0 với những ngày đặt lại khác nhau: NII vẫn nhạy với sự thay đối lãi suất mặc dù khe hở bằng 0.

       Khe hở giữa giá trị tài sản và nợ. Trong một tháng, những giá trị này thay đổi. Một khi khe hở rút ra từ các giá trị đầu tháng sẽ giả định những thay đổi đó không xảy ra. Một cách làm thông thường là để sử dụng giá trị tài sản và nợ là trung bình của những giá tri hiing ngày trong một tháng.

       Mô hình khe hở rất được ưa dùng vì nó đơn giản và đo độ nhạy của NII với những biến động lãi suất, phòng hộ rủi ro lãi suất của NII trở nên rất đơn giản vì chỉ cần thay đổi khe hở, điều này có thế đạt được vớí những công cụ phòng hộ như hoán đổi lãi suất và hợp đồng giao sau.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Những cuộc khủng hoảng tính thanh khoản

      Cho vay dài hạn để nắm giữ những tài sản ngắn hạn không mang tính kinh tế mọi nguồn phù hợp để huy động vốn cho những tài sản cổ tính thanh khoản cao là sử dụng repo, cho phép ngân hàng tách biệt chi phí huy động vốn cho những tài sản này khỏi chi phí gây vốn cho ngân hàng. Chi phí repo rẻ hơn chi phí cấp vốn của ngân hàng. Hơn nữa, chi phí của repo ứng với ngày đặt lại lãi suất của tài khoản thanh khoản. Kỹ thuật được dùng để huy động vốn cho những cổ phiếu nắm giữ tới đáo hạn.

         Khủng hoảng tính thanh khoản và stress test

      Một sự tiết lộ thông tin bất ngờ có thể khiên cho những nguồn cấp vốn thông thường cắt giảm hạn mức tín dụng của họ. Một sự tắc nghẽn trong những thị trường quốc gia hoặc toàn cầu có thể gây ra việc tháo chạy tiền gửi toàn hệ thông, thu hẹp tính thanh khoản do một vài vụ sụp đổ, nỗi lo sợ lây lan sang những tổ chức tài chính khác gây ra lự lo ngại rủi ro và ngần ngại cho vay.

      Một số ví dụ của những cuộc khủng hoảng đó
– Cuộc khủng hoảng nợ Nga
– Nỗi lo sợ Y2K về lỗi của hệ thống thông tin
– Cuộc khủng hoảng 11/9
– Cuộc khủng hoảng dưới chuẩn tháng 8 năm 2007, cho thấy việc các thị trường có tính thanh khoản cao nhất đóng băng là điều hoàn toàn có thể giải quyết những cuộc khủng hoảng tính thanh khoản như vậy. Stress test bao gồm mô phỏng điều gì có thể xảy ra trong sự kiện NU tệ nhất. Những nguồn gốc của cuộc khủng hoảng và những sự kiện lịch sử là những ví dụ. Trong trường hợp một cuộc khủng hoảng toàn hệ thống, đệm an toàn duy nhất chống lại sự biến động thị trường là tài sản có tính thanh khoản cao vì chúng sẽ luôn tạo ra một nguồn vốn.

 khủng hoảng


     Chú ý những cuộc khủng hoảng tính thanh khoản có thể bị bắt đầu chỉ với một ngân hàng thay vì tòan bộ hệ thống, ví dụ bao gồm những thua lỗ đột ngột không đoán trước của một ngân hàng đe dọa khả năng thanh toán của nó, làm mất lòng tin cho vay từ những người tham gia tài chính khác. Sụt giảm uy tín của ngân hàng cũng có những tác động nghiêm trọng lên tài sản và nợ. Chi phí huy động vốn sẽ tăng và ngân hàng có thể không được cho vay nữa từ những ngân hàng đòi hỏi một xếp hạng tối thiểu.

        Nguyên nhân đó cũng có thể gây ra lệnh gọi tăng thế chấp, ngân hàng phải bổ sung thế chấp vào những khoản nợ hoặc giảm nợ. Về tài sản, ngân hàng có thể mất khả năng dàn xếp những giao địch đòi hỏi xếp hạng tối thiếu, ví dụ cung cấp đảm bảo. Điều này cho thấy mức độ phức tạp của stress test tính thanh khoản, rủi ro tín dụng, khả năng thanh toán và các vấn đề tính thanh khoản đều liên hệ mật thiết. Một stress test toàn diện phải bao gồm tất cả những tác động này với tính thanh khoản, kết hợp nhiều tình huống và tích lũy ảnh hưởng của chúng với tính thanh khoản.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Khe hở lãi suất

        Chương này giới thiệu mô hình khe hở lãi suất là thước đo đơn giản nhất của rủi ro lãi suất trong thu nhập lãi thực, là một biến mục tiêu chính của ALM. Khe hở lãi suất được định nghĩa ở phần 23.1 là hổ sơ thời gian dự kiến củ khe hở giữa tài sản và nợ có cùng một lãi suất tham chiếu, Phần 23.3 giới thiệu mỏ hình khe hở, liên hệ thu nhập lãi với sự thay đổi trong lãi suất, mô hình khe hở cực kỳ đơn giản và đưa ra những quy tắc đơn giản để quản lý nguy cơ lãi suất của bảng cân đối kế toán.

         Vì những khe hở thanh khoản dự kiến mở cũng là những vị thế mở với lãi suất, mô hình khe hở nên bao gổm chúng cùng vói khe hở lãi suất để nhất quán với sự thay đổi thu nhập lãi, như được giải thích ở phần ba. Phần ba sẽ trình bày những báo cáo khe hở lãỉ suất mẫu. Phần tiếp theo đưa ra phép tính trực tiếp về thu nhập lãi thực và kiểm tra liệu sự thay đổi của nó với lãi suất có nhất quán với mô hình chênh lệch hay không. Phần 23.6 nêu ra những nhược điểm và hạn chế của khe hờ lãi suất, do đó đòi hỏi phải dùng nhiều tình huống với bảng cân đối kế toán để kiểm tra những quy ước ẩn trong phép tính khe hở lãi suất. 

LÃI SUẤT


        ĐỊNH NGHĨA KHE HỞ LÃI SUẤT
        Khe hở lãi suất là một thước đo tiêu chuẩn của rủi ro tín dụng. Có hai loại khe hở:
• Khe hở lãi suất cố định trong một khoảng thời gian là sự khe hở giữa tài sản và nợ có lãi suất cố định.
• Khe hở lãi suất thả nổi trong một khoảng thời gian là sự khe hở giữa tài sản và nợ có lãi suất thả nổi.

        Giống như khe hở thanh khoản, khe hở lãi suất tĩnh xuất phát từ tài sản và nợ hiện tại, trong khi khe hở động bao gồm những giao dịch mới. Cả hai đều là hồ sơ thòi gian ở những thời điểm tương lai xuất phát từ bảng cân đối dự kiến vào những ngày đó. Hổ sơ thời gian của tài sản và nợ giảm đi với khe hở tĩnh do khấu hao nhưng những khe hở dự kiên có thể cỏ bất kỳ hổ sơ thời gian nào.