Đăng bởi Để lại phản hồi

Hồ Sơ thời gian của khe hở thanh khoản

Định nghĩa tính thanh khoản

     Tính thanh khoản là khả năng có đủ tiền mặt để cho vay và xử lý những yêu cầu rút tiền ký gửi ở một chi phí vừa phải trong một khung thời gian hợp lý. Các ngân hàng đáp ứng nhu cầu tính thanh khoản bằng cách thu tiền ký gửi và tăng nợ tài chính. Rủi ro thanh khoản là rủi ro không thể tăng tính thanh khoản hoặc tăng với chi phí cao.

     Để tự bảo vệ khỏi những xáo trộn thị trường, các ngân hàng dựa trên những tài sản có tính thanh khoản cao. Chúng là những tài sản có thể bán đi dễ dàng mà không bị mất giá trị. Một ví dụ điển hình là tín phiếu chính phủ, không rủi ro và ngắn hạn, giá trị của nó ít nhạy với những thay đổi lãi suất hơn. Nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản cao lại là một hạn chế vì thu nhập từ những tài sản đó là lãi suất không rủi ro ngắn hạn.

      Bởi vì thị trường tài chính ngắn hạn có tính thanh khoản cao, bao gồm thị trường giữa các ngân hàng, rủi ro thanh khoản đã bị xem thường trong những năm gần đây. Chi phí của tính thanh khoản giữa các ngân hàng và độ ngại rủi ro trong việc vay/cho vay giữa các ngân hàng là chênh lệch TED (chênh lệch tín phiếu chính phủ so với Euro/Dollar). Chênh lệch này thường là 50 điểm cơ sở nhưng có thể tăng gấp 10 lần trong cuộc khủng hoảng tài chính. Điều đó trở thành một sự thu hẹp tính thanh khoản, kích thích những biện pháp từ chính phủ như đảm bảo cho các trao đổi giữa các ngân hàng.

     Trong điều kiện thông thường, quản lý tính thanh khoản dựa trên khe hở thanh khoản đánh giá điều gì có thể xảy ra khi có thiếu hụt nghiêm trọng. Những kế hoạch dự phòng khủng hoảng tính thanh khoản đã được đề ra và sẽ được thảo luận ở phần cuối.

Hồ Sơ thời gian

 Hồ Sơ thời gian của khe hở thanh khoản

     Khe hở thanh khoản là những hiệu giữa số dư của tài sản và nợ của một danh mục đầu tư ngân hàng vào mọi thời điểm trong tương lai. Khi chỉ nói tới những tài sản và nợ hiện tại, chúng giảm giá theo thời gian, và hồ sơ thời gian của chúng là những đồ thị đi xuống. Những khe hở đó gọi là “tĩnh” vì những khoản vay, tiền ký gửi và khoản nợ trong tương lai sẽ bị bỏ qua. Chênh lệch giữa tài sản và nợ dự kiến có thể có ba dạng chính.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chức năng của ALM

       Hệ thống FTP kết nối quản lý rủi ro toàn diện với các đơn vị kinh doanh và giao dịch. Đó là một phần quan trọng trong quản lý rủi ro toàn ngân hàng và thuộc phạm vi của ALM

      ALM có một phạm vi rộng từ quản lý rủi ro thanh khoản cho tới giá trị kinh tế của bảng cân đối kế toán và đánh giá chuyển giao nội bộ. Phạm vi chung của ALM được chia theo những vai trò của ALM. Mục này chia nhỏ ALM thành những khối riêng biệt để xử lý những vai trò khác nhau.

       ALM thường thuộc về phòng tài chính. Phòng này xử lý tất cả những vấn đề tài chính: rủi ro lãi suất, rủi ro cấp vốn, chuyển khoản nội bộ, phân bố rủi ro trong các đơn vị kinh doanh, kiểm soát và báo cáo quản lý. Phòng tài chính cũng có thể mở rộng sang chứng khoán hóa và quản lý vốncùng với phòng rủi ro. ALM có thể lựa chọn những vị thế mở vớirủi ro lệch hạn. Những nguy ca mở nên tuân thủ với những giới hạn đặt ra bởi ALM và phòng rủi ro. Đơn vị ALM cũng có thể là một trung tâm lợi nhuận và tăng cường thu nhập rủi ro của ngân hàng, phụ thuộc vào những giới hạn trên.

Hệ thống FTP


     Tổ chức của ALM được trình bày ở hình 7.1. Hội đồng ALM (ALCO) chịu trách nhiệm thực thi những quyết định ALM trong khi một đơn vị kỹ thuật chuẩn bị những phân tích cần thiết để đưa ra quyết định và vận hành những mô hình ALM. Chương trình của ALCO bao gồm “quản lý bảng cân đối kế toán toàn diện” và những chỉ đạo cho các nghiệp vụ kinh doanh đưa ra chính sách phù hợp với chính sách toàn ngân hàng.

      ALCO là bộ phận thi hành của ALM. Nó nhóm những nghiệp vụ với ban quản lý tương đương và đưa ra những chỉ đạo và chính sách về rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản cho danh mục đầu tư ngân hàng, và mở rộng sang các chính sách kinh doanh. Việc thực hiện được ủy quyền cho bộ phận thủ quỹ trung ương.


Đăng bởi Để lại phản hồi

Mục tiêu của ALM

     Trước khi Var xuất hiện như một khái niệm chủ chốt, quản lý tài sản nợ (ALM) phát triển và đưa ra các công cụ đề nắm bắt rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất ở mức độ toàn bộ bảng cân đốikế toán. Nó mở rộng định nghĩa của giá chuyến giao kinh tế, dùng để làm tiêu chuẩn để định giá và phân bố doanh thu. Chú ý ALM không xử lý chi phí vốn với rủi ro lệch hạn.

      ALM không phải là một tập con của rủi ro thị trường hay một kỹ thuật không quan trọng có thể bỏ qua bằng cách thảo luận những kỹ thuật phức tạp hơn của mô phỏng rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng. Không có nhiều tài liệu sâu rộng về ALM cuộc khủng hoảng tài chính sẽ tăng cường vai trò của ALM trong rủi ro lệch hạn như một chức năng tối quan trọng. 

      Hội đồng ALO hay ALCo quyết định tất cả các chính sách về cấu trúc bảng cân đối kế toán, cấp vốn, giới hạn quy định và liên hệ chúng với thu nhập lãi.

      Mục tiêu của ALM là cung cấp những thước đo rủi ro lệch hạn và kiểm soát nó trong giới hạn hợp lý, trong khi tối ưu hóa thu nhập rủi ro của bảng cân đối, thông qua những hành động trên bảng (chính sách kinh doanh) và công cụ ngoài bảng (phái sinh).

     Những biến của rủi ro lệch hạn bao gồm vị thế tính thanh khoản và những biên phụ thuộc vào rủi TO lãi suất (ERR)

1. Thu nhập lãi thực (NII): =doanh thu lãi- chi phí lãi.

2. Giá trị kinh tế  (EV)của bảng cân đối kế toán: giá trị thực theo mô hình của tài sản và nợ.

Các rủi ro của ALM: tính thanh khoản và lãi suất không chịu phí vốn theo Basel 2. Basel 2 đặt việc giám sát rủi ro ALM vào trụ 2 (kỷ luật thị trường):

#762 Hội đồng cho rằng lãi suất rủi ro trong sổ sách ngân hàng là một rủi ro quan trọng nên được hỗ trợ bởi vốn

#763 Hướng dẫn về rủi ro lãi suất công nhận hệ thống nội bộ của ngân hàng là công cụ chính để đo lường rủi ro lãi suất trong sổ sách ngân hàng và phản ứng giám sát. Để hỗ trợ cho người giám sát theo dõi rủi ro lãi suất ở các tổ chức, các ngân hàng phải cung cấp kết quả của hệ thống đo lường nội bộ của họ, biểu diễn dưới dạng giá trị kinh tế tương đối với vốn, sử dụng những cú shock lãi suất tiêu chuẩn hóa.

lãi suất rủi ro


      Basel 2 không phân bổ vốn cho các rủi ro ALM mặc dù chúng đóng vai trò quan trọng trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008. Ngày nay, các quy định cân nhắc những đo lường đơn giản tối thiểu để xử lý những rủi ro của công ty tài chính và hệ thống tài chính để bù cho sự thiếu chú ý dành cho rủi ro ALM.

Đăng bởi Để lại phản hồi

So sánh các cách phân loại quy định rủi ro và IFRS

        So sánh các biện pháp xử lý điều chỉnh trước và sau IFRS và phân loại dùng bởi IFRS và phân loại theo các quy định rủi ro sẽ hữu ích. Cuộc tranh luận hiện tại về kế toán giá trị công bằng bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính không thể bị bỏ qua. Hệ quả của nó được trình bày trong bài viết của tạp chí The Economist ngày 18-9-2008:

     “Những ông trùm ngân hàng nói rằng trong một cuộc suy thoái, kế toán giá trị công bằng ép buộc họ phải thừa nhận thua lỗ đổng thời làm sụt giảm vốn và kích thích bán tháo tài sản, càng làm cho giá cả và định giá tụt xuống thấp hơn. Theo kế toán cổ điển, thua lỗ xuất hiện trong sổ sách chậm hơn nhiều.”

      Tất cả đều cộng bằng – Cuộc khủng hoảng và kế toán giá trị công bằng IASB và FASB đều cam kết vào tháng 10 năm 2008 về một nỗ lực chung để giải quyết những vấn đề báo cáo nảy sinh từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Họ thành lập Nhóm CỐ VấnKhủng hoảng tài chính (FCAG) vào tháng 12 năm 2008 để cố vấncho hai hội đồng về những hệ quả tạo dựng tiêu chuẩn từ cuộc khủng hoảng tài chính và những thay đổi tiềm năng trong các quy định toàn cầu. Các đề tài bao gồm kế toán giá trị công bằng, dự phòng nợ, các tổ chức cấu trúc và những công cụ không có trong bảng cân đối.

 IFRS


Quản Lý Nợ tài sản (ALM)

      Trước khi VaR xuất hiện như một khái niệm chủ chốt, quản lý tài sản nợ (ALM) phát triển và đưa ra các công cụ đề nắm bắt rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất ở mức độ toàn bộ bảng cân đốikế toán. Nó mở rộng định nghĩa của giá chuyến giao kinh tế, dùng để làm tiêu chuẩn để định giá và phân bố doanh thu. Chú ý ALM không xử lý chi phí vốn với rủi ro lệch hạn.

     ALM không phải là một tập con của rủi ro thị trường hay một kỹ thuật không quan trọng có thể bỏ qua bằng cách thảo luận những kỹ thuật phức tạp hơn của mô phỏng rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng. Không có nhiều tài liệu sâu rộng về ALM cuộc khủng hoảng tài chính sẽ tăng cường vai trò của ALM trong rủi ro lệch hạn như một chức năng tối quan trọng. Alm giải quyết rủi ro lệch hạn theo hai hướng, rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất. ALM đưa ra bức tranh tổng quát vị thế thanh khoản của ngân hàng, thông qua hồ sơ thời gian của số dư và thâm hụt trong mọi tiền tệ. ALM cũng ghi lại dao động thu nhập lãi bằng cách liên hệ chúng với lãi suất. Nó ứng dụng với dịch vụ ngân hàng bán lẻ, ngân hàng thương mại và ngân hàng thương gia.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Mối quan hệ và độ hiệu quả của kế toán phòng hộ

        Phòng hộ dòng tiền được dùng để giảm nguy cơ của sự dao động dòng tiền, và để phòng hộ rủi ro lãi suất của những tài sản và khoản nợ lãi suất thả nổi. Trong phòng hộ dòng tiền, lợi nhuận và thua lỗ của công cụ phòng hộ trì hoãn cho tới khi những công cụ được phòng hộ có ảnh hưởng tới thu nhập.

       Trong mối quan hệ của phòng hộ dòng tiền, phái sinh được ghi chép ở giá trị công bằng trong bảng cân đối, cùng với những thay đổi trong giá trị công bằng chuyển tới cổ phần của cổ đông trong một dòng riêng biệt “những lợi nhuận và thua lỗ chưa thực hiện hoặc trì hoãn”. Khoản này được chuyển sang tài khoản lợi nhuận và thua lỗ dưới đề mục “thu nhập lãi thực” khi dòng tiền từ công cụ được phòng hộ có ảnh hưởng tới lợi nhuận và thua lỗ.

       Phòng hộ những khoản đầu tư ngoại tệ trong các công ty con và chi nhánh cũng được xử lý giống như phòng hộ dòng tiền.

Tài chính


      Vào thời điểm bắt đầu phòng hộ, nhóm chuẩn bị tài liệu chinh thức của môi quan hệ phòng hộ, xác định:

–         Công cụ được bảo hộ

–         Chiến lược phòng hộ và loại hình rủi ro được cân nhắc

–         Công cụ phòng hộ

–         Phương pháp để đánh giá độ hiệu quả của mối quan hệ phòng hộ.

       Bất kể chiến lược phòng hộ là gì, phần không hiệu quả của phòng hộ được ghi nhận trong tài khoản lợi nhuận và thua lỗ dưới mục “lợi nhuận và thua lỗ thực của công cụ tài sản ở giá trị công bằng thông qua lợi nhuận và thua lỗ”

“Độ hiệu quả”của phòng hộ

      “Độ hiệu quả” của phòng hộ phải được ghi chép để công nhận phòng hộ. Khi bắt đầu và ít nhất hàng quý, nhất quán với văn bản ban đầu, nhóm sẽ đánh giá độ hiệu quả thực và dự đoán của mỗi quan hệ phòng hộ. Thử nghiệm độ hiệu quả thực được thiết kế để đánh giá liệu những thay đổi thực trong giá trị công bằng hay dòng tiền của công cụ phòng hộ và công cụ được phòng hộ có trong khoảng 80% tới 125% hay không. Thử nghiệm độ hiệu quả kỳ vọng được thiết kế để đảm bảo những thay đổi kỳ vọng trong giá trị công bằng hoặc dòng tiền của phái sinh có thể bù trừ cho công cụ được phòng hộ. Với những giao dịch nhiều khả năng, độ hiệu quả được đánh giá dựa trên cơ sở dữ liệu lịch sử của những giao dịch tương tự.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Kế toán phòng hộ

     Trong trường hợp cổ phiếu có thu nhập thay đổi được báo giá trong thị trường hoạt động mạnh, sự sụt giảm đáng kể trong giá trích dẫn tụt xuống thấp han chi phí mua được tính là bằng chứng của sự sụt giảm. Sự sụt giảm tiếp theo trong giá trị công bằng tạo thành những thua lỗ sụt giảm, được công nhận trong tài khoản lợi nhuận và thua lỗ.

      Các khoản nợ sẽ được kiểm tra có sụt giảm hay không trên cơ sở riêng lẻ và trên cơ sở danh mục đầu tư. Sụt giảm riêng lẻ áp dụng khi có thể xác định tài sản ứng với sự sụt giảm. Sụt giảm tập thể của một tập hợp các tài sản ứng dụng với những tài sản có đặc tính rủi ro tín dụng tương tự nhau. Những tài sản không bị sụt giảm riêng lẻ được đánh giá trên cơ sở danh mục đầu tư những khoản nợ có tính chất giống nhau.

      Thay đổi trong thua lỗ sụt giảm được ghi chép trong tài khoản lợi nhuận và thua lỗ dưới mục “sụt giảm”.

lợi nhuận


 Kế toán phòng hộ

      Kế toán phòng hộ định nghĩa cơ sở thông thường để công nhận lợi nhuận và thua lỗ (hay doanh thu và chi phí) liên quan tới một công cụ được phòng hộ và một công cụ phòng hộ. Nó cho phép bù trừ lợi nhuận và thua lỗ của hai công cụ. Để áp dụng kế toán phòng hộ, những tiêu chí gắt gao phải được đáp ứng, bao gồm giây tờ chính thức và đạt tiêu chuẩn độ hiệu quả. Thử nghiệm độ hiệu quả dùng để chứng minh mối quan hộ chặt chẽ giữa công cụ phòng hộ và công cụ được phòng hộ.

       Các loại phòng hộ: Có ba loại phòng hộ

–         Phòng hộ giá trị công bằng

–         Phòng hộ dòng tiền

–         Phòng hộ một khoản đầu tư trong một hoạt động ở nước ngoài

       Phòng hộ giá trị công bằng áp dụng với những thay đổi trong giá trị công bằng. Thu nhập và thua lỗ của các công cụ được phòng hộ và công cụ phòng hộ được thừa ngay lập tức và bù trừ cho nhau, nếu phòng hộ hiệu quả. Theo phòng hộ giá trị công bằng, lợi nhuận và thua lỗ của ca hai công cụ được công nhận trong cùng một khoảng thời gian kế toán giống nhau.

     Trong mối quan hệ của phòng hộ giá trị công bằng, công cụ phái sinh được tái định giá ở giá trị công bằng trong bảng cân đối. Những thay đổi trong giá trị công bằng nằm trong tài khoản lợi nhuận và thua lỗ trong phần “lợi nhuận và thua lỗ thực của tài sản tài chính ở giá trị công bằng thông qua lợi nhuận và thua lỗ”, đối xứng với sự tái định giá của công cụ được phòng hộ. Trong những trường hợp đặc biệt, phòng hộ vĩ mô hay phòng hộ ứng dụng với một danh mục đầu tư cũng được công nhận.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Sự sút giảm của những tài sản tài chính.

       Lợi nhuận và thua lỗ “ngày thứ nhất” được định nghĩa là hiệu giữa giá giao dịch và giá tri công bằng, nên được thừa nhận vào thời điểm giao dịch xảy ra trong thị trường hoạt động mạnh.

      Biên lợi hình thành khi những công cụ tài sản phức tạp được giao dịch (lợi nhuận ngày thứ nhất) được trì hoãn và chuyền sang tài khoản lợi nhuận và thua lỗ trong khoảng thời gian những thông số đánh giá vẫn tiếp tục không quan sát được. Khi những thông số ban đầu không quan sát được trả thành quan sát được, hoặc khi đánh giá có thể được so sánh với những giao dịch tương tự gần đây trong thị trường hoạt động, phần không được công nhận của lợi nhuận ngày đẩu tiên được trở lại tài khoản lợi nhuận và thua lỗ.

tài sản tài chính.

 Sự sút giảm của những tài sản tài chính.

     Thua lỗ sút giảm được công nhận cho những khoản vay và tài sản tài chính giữ tới đáo hạn khỉ có bằng chứng khách quan sự giảm giá trị là kết quả của một sự kiện sau khi bắt đầu. Thua lỗ kỳ vọng không được coi là sút giảm, bằng chứng khách quan của sự sụt giảm bao gồm những khó khăn tài chính của người phát hành, xác suất vỡ nợ cao và vi phạm hợp đồng.

Nếu có bằng chứng khách quan là sự sụt giảm đã xảy ra và lượng mang của tài sản tài chính với chi phí khấu hao vượt quá lượng có thể hồi phục, tài sản đã bị ‘sút giảm’. Ở cấp độ riêng lẻ, lượng sút giảm là hiệu giữa lượng mang trước khi sụt giảm và giá trị hiện tại, chiết khấu ở lãi suất thực ban đầu của tài sản, của những thành phần (gốc, lãi, thế chấp…) được coi là có thể hồi phục. Lượng mang bị giảm xuống lượng có thể phục hồi trực tiếp hoặc thông qua một tài khoản trợ cấp. Lượng thua lỗ được bao gồm trong lợi nhuận và thua lỗ thực trong khoảng thời gian đó. Sự sút giảm xuất hiện trong báo cáo tài chính dưới danh mục “sụt giảm”, “dự phòng thua lỗ nợ” hoặc “chi phí rủi ro”.

      Sụt giảm của những tài sản tài chính “có sẵn để bán” (chủ yếu bao gồm cổ phiêu) được công nhận trên cơ sở riêng lẻ nếu có bằng chứng sụt giảm là kết quả của sự kiện sau khi mua. Nếu có bằng chứng khách quan về sự sụt giảm của tài sản tài chính có sẵn đểbán ở giá trị công bằng, thua lỗ tích lũy thực được chuyển từ cổ phần sang kết quả kinh doanh sau thuếmặc dù tài sản chưa được bán. Những thua lỗ sụt giảm được công nhận là một thành phần của thu nhập thực dưới danh mục “lợi nhuận và thua lỗ thực của tài sản tài chính có sẵn để bán”.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Công cụ giao dịch trong thị trường hoạt động

Công cụ giao dịch trong thị trường hoạt động mạnh

      Nếu báo giá có sẵn trong thị trường hoạt động mạnh, điều đó sẽ giúp cho việc xác định giá trị công bằng. Phương pháp này được dùng cho những cổ phiếu được báo giá và phái sinh trao đổi trên những thị trường có tổ chức. Phái sinh, hoán đổi, thỏa thuận lãi suất giao sau, sàn, trần và quyền chọn được trao đổi trên những thị trường hoạt động mạnh.

    Đánh giá được thực hiện bằng những mô hình được chấp thuận rộng rãi (dòng tiền chiết chấu, mô hình Black-Scholes, kỹ thuật phép nội suy) dựa trên những giá thị trường được báo giá cho những công cụ tương tự hoặc công cụ cơ sở. Sự đánh giá rút ra từ những mỏhình này được điều chỉnh cho tính thanh khoản và rủi ro tín dụng, bắt đầu từ sự đánh giá rút ra từ giá thị trường trung bình, điều chỉnh giá được sử dụng để định giá vị thế thực của mỗi tài sản tài chính ở giá mời bán trong trường hợp đoản vị, và giá mời mua trong trường vị. Giá mời bán là giá một người sẽ mua công cụ, và giá mời mua là giá một người sẽ bán. Điều chỉnh rủi ro đốitác áp dụng với sự đánh giá rút ra từ mô hình để phản ánh chất lượng tín dụng của công cụ phái sinh.

giao dịch


      Các công cụ giao dịch trong thị trường hoạt động yếu

    Chúng ta sẽ xem xét hai trường hợp khi không có thị trường hoạt động mạnh. Nếu một công cụ có thể được sao chép bằng những công cụ đơn giản khác giao dịch trên thị trường hoạt động mạnh, giá sẽ được tính từ những công cụ đó. Nếu một công cụ không được giao dịch trên thị trường hoạt động và không thể được định giá gián tiếp bằng những giao dịch sao chép, việc đánh giá phải dựa vào mô hình.

      Các sản phẩm giao dịch trên thị trường không hoạt động được định giá sử dụng những mô hình nội bộ dựa trên những thông số không quan sát được hoặc chỉ quan sát được một phần. Một thị trường không quan sát được là một thông sốvới giá trị hình thành do những giả định hoặc sự tương quan, không dựa trên những giao dịch thị trường hiện tại hoặc dữ liệu thị trường quan sát được.

     Một số công cụ tài chính phức tạp, không có tính thanh khoản hoặc có kỳ hạn dài được định giá sử dụng những kỹ thuật nội bộ hoặc dựa trên những dữ liệu quan sát một phần trên thị trường hoạt động. Nếu thiếu những dữ liệu quan sát được, những công cụ này được tính bằng sự công nhận ban đầu để phản ánh giá giao dịch, coi như chỉ báo tốt nhất của giá trị công bằng. Đánh giá bằng những mô hình này được điều chỉnh cho phù hợp với rủi ro tính thanh khoản và rủi ro tín dụng.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chi phí khấu hao và Phương pháp xác định giá trị công bằng

       Với những tài sản định giá ở chi phí khâu hao, chi phí khâu hao là khoản sẽ phải hoàn lại vào ngày đáo hạn, thường là tiền gốc của mệnh giá, cộng hoặc trừ những lệ phí chưa trả hoặc chiết khâu và chi phí giao dịch, trừ đi những khoản thanh toán gốc và sút giảm.

      Lịch trình khấu hao sử dụng phương pháp lãi suất thực. Lãi suất thực là lợi nhuận-tới- đáo hạn, hay tỷ lệ chiết khâu khiến cho giá trị công cụ đúng bằng tất cả những khoản tiền kỳ vọng tương lai, bao gồm chiết khấu và lệ phí. Tỷ lệ này áp dụng cho lượng mang vào mỗi ngày báo cáo để xác suất thu nhập lãi cho tài sản và chi phí cho nợ. Lợi nhuận tới đáo hạn và dòng tiền không bao gồm thua lỗ tiềm năng của công cụ. Đây là lợi nhuận theo hợp đồng. Chi phí giao dịch bao gồm phí, hoa hồng và tiền thuế trả cho bên kia.

Chi phí khấu hao

Phương pháp xác định giá trị công bằng

     Những tài sản và nợ tài chính phân loại là giá trị công bằng thông qua lợi nhuận và thua lỗ, và tài sản tài chính được phân loại là “có sẵn để bán” được tính toán ở giá trị công bằng, định nghĩa là lượng tiền tài sản có thể quy đổi giữa những bên đối tác hiểu biết, săn sàng trong giao dịch trực tiếp. Giá trị của công cụ tài chính thường là giá giao dịch.

     Giá trị công bằng được xác định:

  • Dựa trêncơ sở giá cả trích dẫn trên thị trường hoạt động
  • Sử dụng những kỹ thuật đánh giá bao gồm các phương pháp tính toán dựa trên nhũng lý thuyết tài chính, tông số từ giá của những công cụ trao đổi trên thị trường hoạt động và từ những ước lượng thông kê hoặc phương pháp định lượng khác

      Sự phân biệt giữa hai phương pháp đánh giá là liệu công cụ có được trao đổi trên thị trường hoạt động hay không. Thị trường được coi là hoạt động và do đó có tính thanh khoản cao khi có sự trao đổi liên tục trên thị trường, hoặc những công cụ trao đổi rất giống như công cụ đang được đánh giá. Có một hệ thống cấp bậc những kỹ thuật đánh giá trong ba hạng mục chính:

  • Hạng mục 1: giá cả quan sát trên thị trường hoạt động
  • Hạng mục 2: giá cả quan sát trên thị trường hoạt động của những công cụ có thể được sao chép bằng công cụ đang được đánh giá
  • Hạng mục 3: khi không có giá quan sát được, đánh giá mô hình được sử dụng với những mô hình được chấp nhận rộng rãi.

     Những bảng báo giá công khai là bằng chứng tốt nhất của giá trị công bằng. Thị trường hoạt động mạnh đảm bảo những giá niêm yết luôn có sẵn từ một giao dịch. Những giá đó nên đại diện những giao dịch thực trực tiếp. Trong sự kiện có nhiều nơi giao địch, giá hời nhất sẽ được sử dụng. Hội Đồng Tiêu Chuẩn Kế Toán Quốc Tế định nghĩa giá trị công bằng là giá có thể được nhận khi bán tài sản trong một giao dịch trật tự giữa những người tham gia thị trường.

Những thị trường không hoạt động không thỏa mãn những điều kiện trên, không có tính thanh khoản và không có giá cả đáng tin cậy. Chúng tồn tại với những công cụ phức tạp hoặc khi tính thanh khoản giảm sút.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Những tài sản có sẵn để bán

      Tất cả những tài sản tài chính không được phân loại trong bất kỳ hạng mục nào khác được gọi là “có sẵn để bán”. Hạng mục này bao gồm mọi cổ phiếu không nằm trong hạng mục “ở giá trị công bằng thông qua lợi nhuận và thua lỗ”. Một tổ chức có thể  định mọi tài sản trừ tài sản để trao đổi vào hạng mục này.

    Những tài sản này là những cổ phiếu thu nhập cố định không được phân loại là “giá trị công bằng thông qua lợi nhuận và thua lỗ” và “nắm giữ tới đáo hạn”. Tài sản bao gồm trong hạng mục này ban đầu được ghi chép ở giá trị công bằng cộng với chi phí giao dịch. Vào ngày trên bảng cân đối, chúng được đinh giá lại thành giá trị công bằng với những thay đổi trong giá trị công bằng (trừ tiền lãi tích lũy) trong một dòng riêng biệt trong cổ phần của cổ đông, “những thua lỗ và lợi nhuận trì hoãn”.

      Nói cách khác, lợi nhuận và thua lỗ của những tài sản này sẽ xuất hiện trực tiếp trong vốn nhưng không xuất hiện trong kết quả kinh doanh sau thuếbởi vì chúng chưa được thực hiện. Khi công nhận một thua lỗ giảm sút, những lợi nhuận và thua lỗ chưa thực hiện này được chuyển từ cổ phần của cổ đông sang tài khoản lợi nhuận và thua lỗ, dưới đề mục “lợi nhuận và thua lỗ thực củatài sản tài chính có sẵn để bán”.

 tài sản


     Thu nhập sử dụng phương pháp ‘lãi thực’ từ cổ phiếu thu nhập cố định có sẵn để bán được ghi chép trong mục “thu nhập lãi” trong tài khoản lợi nhuận và thua lỗ. Thu nhập cổ tức từ những cổ phiêu thu nhập thay đổi được ghi trong phần “lợi nhuận và thua lỗ thực của tài sản tài chính có sẵn để bán” khi quyền lợi nhận thanh toán được xác lập.

Các quy tắc đánh giá

    Những quy tắc đánh giá tài sản và nợ tài chính dựa trên sự phân loại. Những tài sản và nợ giao dịch và tài sản ‘có sẵn để bán’ được tính ở “giá trị công bằng”, những khoản vay và khoản phải thu và những khoản đẩu tư giữ tói đáo hạn có “chi phí khâu hao”. Phương pháp dễ nhất để đánh giá giá trị công bằng là những giá niêm yết trên các thị trường hoạt động mạnh. Khi giá thị trường không có sẵn, cần dùng những kỹ thuật đánh giá khác sử dụng dữ liệu thị trường.

      Phương pháp đánh giá khác được gọi là “chi phí khấu hao”, được rút ra từ khoản tiền sẽ trả lại vào ngày đáo hạn. Các giá trị còn phụ thuộc vào những thua lỗ giảm sút khi có bằng chứng khách quan của sự thua lỗ do những sự kiện quá khứ. Mối liên hệ giữa phân loại, đánh giá và quy tắc sút giảm được tóm tắt ở bảng 21.4. Sự sụt giảm không quan trọng với một tài sản được trao đổi vì nó ẩn trong giá trị công bằng. Những thay đổi giátrị công bằng, ngoài sự sút giảm, sẽ được chuyển tói vốn hoặc kết quả kinh doanh sau thuế theo những quy tắc nói trên.