Đăng bởi Để lại phản hồi

Nâng hạng thị trường chứng khoán cần có sản phẩm Hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ (TPCP)

Để hướng đến mục tiêu nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi đã đến lúc cần phải tạo ra thêm sản phẩm mới để khơi thông dòng tiền vô cùng lớn chưa thể  chảy vào thị trường.




Các ngân hàng thương mại với việc nắm giữ khoảng 95% danh mục TPCP đang lưu hành, cũng như có nhiều lợi thế về vốn, tài sản… thì lại chưa có thị trường phái sinh trái phiếu chính phủ để giao dịch.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, khi nhà đầu tư thường xuyên giao dịch và sở hữu lượng lớn TPCP trên thị trường cơ sở thì họ có nhu cầu cao giao dịch trên thị trường phái sinh.

Mặt khác, để thị trường trái phiếu hiệu quả thì phải có cả thị trường TPCP cơ sở và phái sinh. Để giao dịch trên thị trường cơ sở có thanh khoản tốt thì giao dịch trên thị trường thứ cấp phải minh bạch thông qua cơ chế khớp lệnh trên sàn. Trong khi trên thực tế, các giao dịch trên thị trường thứ cấp tuyệt đại đa số là giao dịch thỏa thuận (việc đặt lệnh được thực hiện qua Sở GDCK Hà Nội sau khi đã có sự thảo thuận) và OTC, còn giao dịch thông qua yết giá trực tiếp và khớp lệnh trên sàn gần như không đáng kể.

Nếu không cải thiện tình trạng này, thì dù muốn, chúng ta không thể khơi thông dòng vốn chảy vào thị trường chứng khoán, tạo ra thanh khoản, thiết lập được cơ chế lãi suất thị trường minh bạch để các thành viên trong nền kinh tế mới có thể hoạch định được chiến lược kinh doanh lâu dài.

Giải quyết những thách thức trên, ý kiến từ giới chuyên gia cho rằng, cần mở cửa và khuyến khích các công ty chứng khoán và ngân hàng tham gia với tư cách là nhà tạo lập thị trường trái phiếu. Điều này không chỉ tạo độ sâu cho thị trường giao dịch Hợp đồng tương lai TPCP, mà còn gia tăng sức hấp dẫn, thu hút nhiều ngân hàng tham gia giao dịch sản phẩm phái sinh thứ hai này.

“Với quy định hiện hành, việc các ngân hàng thương mại phải giao dịch Hợp đồng tương lai TPCP thông qua mở tài khoản như các nhà đầu tư khác tại CTCK, mà không được trực tiếp bù trừ, thanh toán qua Trung tâm Lưu ký chứng khoán (VSD) sẽ phát sinh không ít vướng mắc, rủi ro…”, lãnh đạo một ngân hàng quan ngại. Theo đó, các ngân hàng thương mại thường giao dịch với lệnh có giá trị lớn, nhưng lại không được là thành viên giao dịch trực tiếp với VSD để bù trừ, thanh toán cho giao dịch của họ, nên sẽ ảnh hưởng đến tính chủ động trong giao dịch.

“Việc ngân hàng thương mại chưa được cấp phép hoạt động thanh toán, bù trừ trực tiếp với VSD sẽ gây khó cho hoạt động tham gia TTCK phái sinh của các tổ chức tín dụng. Phải giao dịch qua CTCK với các ngân hàng còn tạo nên những mối lo về bảo mật thông tin. Đó là chưa kể với các lệnh có giá trị lớn, việc giao dịch qua CTCK còn gây nên rủi ro về tốc độ xử lý lệnh.

Bộ Tài chính và Ủy ban cần lên kế hoạch làm việc với Ngân hàng Nhà nước để tháo gỡ các vướng mắc, tạo thuận lợi cho các thành viên tham gia thị trường, trong đó có việc để các ngân hàng được thực hiện bù trừ, thanh toán cho giao dịch phái sinh TPCP…

Việc Việt Nam có thêm sản phẩm mới để TTCK Việt Nam sẽ được nâng hạng ngay trong năm 2019. Đó là một tin tốt lành với hầu hết các nhà đầu tư, sau chuỗi ngày chờ đợi.

Nguồn: traiphieu.com

Đăng bởi Để lại phản hồi

Thuật toán NKT ( New Key Trade) Oscillator xây dựng danh mục đầu tư cổ phiếu tối ưu



BẢN PHÂN TÍCH MẪU


(Cổ phiếu lấy ví dụ minh họa)





Danh mục tối ưu và Chỉ số Vnindex

Đơn vị: 1.000 đồng
ThángABCDFVNINDEX
5/31/201221.017.8410.9012.5938.40429.20
6/29/201221.387.6710.3011.8935.90422.37
7/31/201220.268.009.8011.6631.00414.48
8/31/201219.896.909.6011.8125.50396.02
9/28/201219.145.708.5011.7422.80392.57
10/31/201220.074.608.5011.5822.60388.42
11/30/201220.914.3010.0011.5819.10377.82
12/28/201220.505.4011.9012.8321.80413.73
1/31/201322.805.2013.9015.0021.60479.79
2/28/201322.505.5016.5015.3021.20474.56
3/29/201322.405.2016.9014.2019.50491.00
4/26/201319.005.8020.5015.4015.20474.51
5/31/201319.306.0026.8016.8014.60518.39
6/28/201319.005.4023.4015.6014.00481.13
7/31/201318.506.6022.9015.9011.90491.85
8/30/201317.707.4020.2015.4010.00472.70
9/30/201316.906.9020.4016.2011.20492.63
10/31/201317.607.3020.3016.8011.90497.41
11/29/201318.608.0023.4018.0015.00507.78
12/31/201319.308.3025.1020.3018.50504.63
1/24/201423.908.7026.1028.1022.60560.19
2/28/201424.8011.0025.0029.4024.10586.48
3/31/201423.5012.0023.4029.3027.00591.57
4/29/201422.2010.6020.8026.0024.50578.00
5/30/201420.2010.8022.1026.8018.30562.02
6/30/201421.5011.3020.4029.2017.90578.13
7/17/201423.6012.7023.0033.8020.70590.37
Biến động giá cổ phiếu và VNINDEX
ThángABCDFVNINDEX
6/29/20121.78%-2.20%-5.50%-5.52%-6.51%-1.59%
7/31/2012-5.24%4.27%-4.85%-1.95%-13.65%-1.87%
8/31/2012-1.84%-13.75%-2.04%1.32%-17.74%-4.45%
9/28/2012-3.76%-17.39%-11.46%-0.65%-10.59%-0.87%
10/31/20124.88%-19.30%0.00%-1.32%-0.88%-1.06%
11/30/20124.19%-6.52%17.65%0.00%-15.49%-2.73%
12/28/2012-1.98%25.58%19.00%10.80%14.14%9.50%
1/31/201311.22%-3.70%16.81%16.89%-0.92%15.97%
2/28/2013-1.32%5.77%18.71%2.00%-1.85%-1.09%
3/29/2013-0.44%-5.45%2.42%-7.19%-8.02%3.46%
4/26/2013-15.18%11.54%21.30%8.45%-22.05%-3.36%
5/31/20131.58%3.45%30.73%9.09%-3.95%9.25%
6/28/2013-1.55%-10.00%-12.69%-7.14%-4.11%-7.19%
7/31/2013-2.63%22.22%-2.14%1.92%-15.00%2.23%
8/30/2013-4.32%12.12%-11.79%-3.14%-15.97%-3.89%
9/30/2013-4.52%-6.76%0.99%5.19%12.00%4.22%
10/31/20134.14%5.80%-0.49%3.70%6.25%0.97%
11/29/20135.68%9.59%15.27%7.14%26.05%2.08%
12/31/20133.76%3.75%7.26%12.78%23.33%-0.62%
1/24/201423.83%4.82%3.98%38.42%22.16%11.01%
2/28/20143.77%26.44%-4.21%4.63%6.64%4.69%
3/31/2014-5.24%9.09%-6.40%-0.34%12.03%0.87%
4/29/2014-5.53%-11.67%-11.11%-11.26%-9.26%-2.29%
5/30/2014-9.01%1.89%6.25%3.08%-25.31%-2.76%
6/30/20146.44%4.63%-7.69%8.96%-2.19%2.87%
7/15/20149.77%12.39%12.75%15.75%15.64%2.12%
Các thông cơ bản trong thuật toán NKT
Lãi suất trái phiếu chính phủ/tháng0.83%
ABCDFVNINDEX
 Biến động CP so với Vnindex 0.810.691.001.241.281.00
Rủi ro7.37%11.90%11.80%9.71%14.11%5.21%
Lợi nhuận của cổ phiếu0.71%2.56%3.57%4.29%-1.35%1.36%
Lợi nhuận kỳ vọng0.73%2.02%3.57%5.13%-1.97%1.36%
Ma trận mối quan hệ biến động giá giữa các cổ phiếu
ABCDFVNINDEX
DBC1.000.010.130.670.600.57
NDN0.011.000.260.330.270.30
PPC0.130.261.000.460.160.44
PVS0.670.330.461.000.540.67
SJS0.600.270.160.541.000.47
VNINDEX0.570.300.440.670.471.00
Tính tỷ trọng danh mục đầu tư
DANH MỤCABCDFTổng cộng
TỶ TRỌNG78.48%17.36%1.28%0.00%2.88%100.00%





I. Đội ngũ chuyên gia traiphieu.com chính là người bạn tri kỷ mà quý nhà đầu tư có thể gửi trọn niềm tin trong thời khắc quan trọng ra khi bạn ra quyết định:

1. Mua ?
2. Bán ?
3. Mua mã chứng khoán nào? Mức giá nào? Khối lượng bao nhiêu?
4. Bán chứng khoán nào?Mức giá nào? Khối lượng bao nhiêu?
5. Thời điểm nào đầu tư cổ phiếu hay trái phiếu, hoặc tiền gửi tiết kiệm?
6. Phân bổ tỷ trọng đầu tư vào từng loại tài sản?
7. Mức lợi nhuận bạn mong đợi trong một kỳ đầu tư (t+3, tuần, tháng, năm)?
8. Mức rủi ro bạn chấp nhận trong một kỳ đầu tư (t+3, tuần, tháng, năm)?



Lưu ý: Qúy nhà đầu tư tuyệt đối không gọi điện làm phiền chúng tôi nếu không nằm trong chương trình hợp tác. Lý do:


– Thứ nhất: Chúng tôi không phải là một tổ chức từ hiện hay tổ chức xã hội phi lợi nhuận Chúng tôi là một nhóm chuyên gia nghiên cứu thuật toán ứng dụng cho thị trường chứng khoán.

– Thứ hai: Chúng tôi chỉ được hưởng 20% trên phần tổng  lãi khi kết thúc một chu kỳ đầu tư nếu có lãi. Các bạn góp vốn, chúng tôi bỏ sức lao động để nghiên cứu chạy thuật toán. Tiền công lao động của chúng tôi đã gắn chặt với kết quả đầu tư, đó là một sự cam kết bằng vàng về chất lượng lao động.

– Thứ ba: Chúng tôi khi nhận được yêu cầu sẽ chạy thuật toán NKT sau đó đưa ra kết quả danh mục, nhà đầu tư tự đặt lệnh mua/bán.  Chúng tôi hoàn toàn không có bất kỳ thao tác nào trên tài khoản của các bạn.

Hotline:  0944 059 703                          Mail: traiphieu.com@gmail.com
Đăng bởi Để lại phản hồi

Độ nhạy và kiểm soát rủi ro

      Kiểm soát rủi ro có nghĩa là kiểm soát độ nhạy với rủi ro bằng cách có những vị thế bù trừ cho những nhân tố rủi ro. Kích thước của vị thế phòng hộ tùy vào độ nhạy tương đối của công cụ được phòng hộ và công cụ phòng hộ, như trong trường hợp phòng hộ đoản vị của một quyền chọn. Phòng hộ delta có nghĩa là bù trừ giá trị quyền chọn với một vị thế trên công cụ. Đây là một hệ quả trực tiếp của việc tạo ra danh mục đầu tư không rủi ro vì mục đích đánh giá quyền chọn. Bởi vì quyền chọn có những độ nhạy khác nhau ngoài delta, chúng không được bảo hộ ví dụ như vega. Những vị thế phòng hộ phải tính toán đến tất cả những độ nhạy, đặc biệt là delta, gamma và vega đối với quyền chọn.

kiểm soát rủi ro


       Khi những công cụ phòng hộ không phụ thuộc vào đúng những nhân tố với công cụ được phòng hộ, sẽ có rủi ro cơ bản, nghĩa là hai vị thế không bù trừ nhau hoàn toàn. Trong kế toán phòng hộ, phòng hộ được công nhận dựa trên độ hiệu quả. Độ hiệu quả được tính bằng khả năng bù trừ cho những thay đổi giá trị của công cụ được phòng hộ, bao gồm bù trừ bao nhiêu, bao lâu và tương quan giữa nhân tố rủi ro của hai công cụ.
      Danh mục đầu tư của các công cụ có thể nhạy với hàng trăm loại rủi ro khác nhau: lãi suất, tỷ giá, cổ phiếu… Quản lý rủi ro đòi hỏi tính toán độ nhạy với tất cả những nhân tố đó, trong khi những công cụ đơn lẻ chỉ nhạy với một số nhân tố rủi ro. 
Đăng bởi Để lại phản hồi

Những quy định về vốn dựa trên rủi ro

     Cơ sở vốn không chỉ giới hạn cho cổ phần cộng với thu nhập được giữ lại. Nó bao gồm bất kỳ khoản nợ nào phụ thuộc vào những cam kết của ngân hàng. Cổ phần đại diện cho ít nhất 50% cơ sở vốn đối với rủi ro tín dụng. Cổ phần còn được gọi là “vốn chủ chốt”.
     Tỷ số Cooke quy định rằng cơ sở vốn phải bằng ít nhất 8% tài sản gia quyền. Trọng số phụ thuộc vào chất lượng tín dụng của người đi vay và giao dịch. Đối với rủi ro thị trường, các quy tắc phức tạp hơn vì các quy định có mục tiêu nhắm vào kinh tế học của rủi ro thị trường, lợi dụng thông tin về các thông số và giá cả thị trường. Ý tưởng chính là giống nhau, xác định khoản chi phí vốn tối thiểu như lạ một hàm số của rủi ro, đánh giá bởi những quy tắc chi phí vốn hoặc mô hình dựa trên Var đối với rủi ro thị trường. Sau khi các mô hình dựa trên Var của ngân hàng được phê chuẩn vào năm 1996-1997, chúng trờ nên rất phổ biến trong ngành ngân hàng từ cuối thập niên 90.

vốn dựa trên rủi ro

Các yếu cầu vốn

     Theo truyền thống, vốn chỉ là một phần rất nhỏ trong tổng tài sản của các ngân hàng, đặc biệt khi so sánh yếu cầu tối thiểu với những tỷ lệ tương tự của những tổ chức phi tài chính khác. Tỷ lệ vốn bằng 8% tài sản bằng với tỷ số đòn bẩy (tỷ số nợ/ cổ phần) là 92/8=11,5. Đòn bẩy lớn bắt nguồn từ nhiều nhân tố. Hoạt động trơn tru của ngân hàng đỏi hỏi tiếp cận dễ dàng và ngay lập tức với các thị trường tài chính, miễn là rủi ro chấp nhận được.
     Tỷ số 8% của vốn so với tài sản có vẻ quá cao nêu so sánh với tỷ lệ vỡ nợ trung bình trong điều kiện thuận lợi, và có thể quá thấp cho những danh mục đầu tư với những người đi vay rủi ro cao trong điều kiện khó khăn. Nhưng tỷ số 8% là họp lý khi tính tới hiệu ứng phân tán hóa. Tỷ số này cho thây những nhà làm luật ước lượng một ngân hàng không thể thua lỗ hơn 8% danh mục đầu tư đối với rủi ro tín dụng, sau khi đã tính tới phân tán hóa.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Kiểm soát rủi ro phủ đầu so với bảo hiểm rủi ro

     Kiểm soát rủi ro nên mang tính phòng ngừa, trong khi bảo hiểm là thụ động, tức là sau khi sự việc xảy ra. Bảo hiểm tiền gửi tồn tại ở phần lớn các nước, đế đảm bảo an toàn cho người ký gửi. Nhưng bảo hiểm rủi ro tạo ra “rủi ro đạo đức” và gây ra xu hướng chấp nhận rủi ro. Về lý thuyết, nếu những người ký gửi có tiền gặp rủi ro với ngân hàng, họ sẽ theo dõi hành vi ngân hàng chặt chẽ. Trong thực tế nếu tiền ký gửi gặp rủi ro, bất kỳ dâu hiệu nào của rủi ro tăng cũng dẫn tới việc rút tiền và càng gây thêm khó khăn, có thể dẫn tới phá sản. Những cuộc tháo chạy ngân hàng đó lại xảy ra vào năm 2008. Đây là một lý do phải bảo hiểm những người gửi tiền khỏi phá sản ngân hàng, nhưng điều này là không đủ.
     Bảo hiểm bổ sung cho những chính sách phủ đầu để ngăn cản việc chấp nhận quá nhiều rủi ro và phòng tránh phá sản. Đối với nhà làm luật, mục tiêu là giảm thiểu rủi ro phá sản thay vì xử lý sau khi điều đó đã xảy ra. Giải pháp lý thuyết là các công ty tài chính kiểm soát rủi ro của họ trong những giới hạn cho phép. Nhà làm luật đặt ra các quy định dựa vào những mục tiêu đó. BIS (Ngân hàng Quyết toán quốc tê) BIS ở Basel đưa ra những quy định mới và những nhà làm luật quốc gia sẽ tiếp thu để thực thi chúng trong môi trường trong nước.

Kiểm soát rủi ro

Vốn thỏa đáng

     Một số quy định với mục đích giới hạn rủi ro một cách đơn giản đã có hiệu lực trong thòi gian dài. Ví dụ, một số tỷ số phải có những giới hạn tôi thiểu. Tỷ số thanh khoản yếu cầu tài sản ngắn hạn phải lớn hơn nợ ngắn hạn và tỷ số giữa khoản vay dài hạn với Khoản nợ dài hạn phải đạt một giá trị tối thiểu ở châu Âu.
Những tỷ số đó giới hạn rủi ro lệch hạn nhưng dần biến mất trong những thời kỳ cấp
Vốn đễ dàng. Sau năm 2008 chúng lại một lần nữa được nhìn nhận như một điều cần thiết.
    Cột trụ chính của những quy định mới là “vốn thỏa đáng”. Bằng cách áp đặt một lượng vốn phù hợp với rủi ro, các nhà làm luật tập trung vào rủi ro phá sản. Vốn dùng để bảo vệ các ngân hàng khỏi những thua lỗ không dự đoán được, những thua lỗ vượt trên thua lỗ dự đoán từ thống kê. Dự phòng thua lỗ tạo ra sự bảo hộ đầu tiên cho rủi ro tín dụng. Nhưng những thua lỗ vượt trên thua lỗ kỳ vọng sẽ làm ngân hàng sụp đổ nêu không đủ vốn. Hệ quả logic là vốn cần phải đủ để đáp ứng những thua lỗ không đoán trước, vượt quá những thua lỗ dự kiên.
    Các chi đạo được định ra bởi một nhóm các nhà làm luật trong cuộc họp ở Basel tại Ngân Hàng Quyết Toán Quốc tế (BIS) do đó được gọi là Hiệp ước Basel. Hiệp ước đầu tiên cần thực thi tập trung vào rủi ro tín dụng với tỷ số Cooke nổi tiếng. Tỷ số này đòi hỏi vốn tồì thiểu là một phần trăm cố định của tài sản. Phạm vi của các quy định mở rộng liên tục sau đó. Sự mở rộng ra rủi ro thị trường là một bước tiến lớn đối với rủi ro thị trường vào năm 1996-1997 bởi vì nó cho phép các ngân hàng sử dụng các mô hình giá trị gặp rủi ro đế đánh giá chi phí vốn cho rủi ro thị trường. Hiệp ước Basel 2 tháng 1 năm 2007 tăng cường đáng kể những quy định về rủi ro tín dụng. Lịch trình của những hiệp ước như sau:
• 1988: hiệp ước hiện tại được xuất bản
• 1996: Sửa Đổi Rủi Ro Thị Trường cho phép sử dụng những mô hình nội bộ
• 1999: Gói tư vấn đầu tiên về Hiệp Ước mới
• 2007: thực thi Hiệp Ước vốn Basel 2
     Những mục tiếp theo nói về hiệp ước 1988 và những quy định vốn rủi ro thị trường. Chương tiếp theo nói về Hiệp Ước mới, làm rõ hơn những yếu cầu về vốn cho rủi ro tín dụng.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Thách thức của những nhà làm luật

     Một số nhân tố giúp ổn định môi trường ngân hàng vào thập kỷ 70. Những quy định với các ngân hàng rất chặt chẽ. Ở Mỹ Ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư phải tách biệt. Ngân hàng thương mai nhận tiền và cho vay. Ngành công nghiệp ngân hàng thương mại bị chia nhỏ, chỉ được hoạt động ở cấp độ bang nhung không được sang các bang khác. Cạnh tranh hạn chế tạo ra lợi nhuận công bằng và ổn định. Luật giới hạn phạm vi hoạt động của các tài chính tín dụng và giới hạn rủi ro. Ở châu Âu, những luật này không được thực thi. Các ngân hàng lớn hoạt động toàn quốc trong thị trường vốn và hoạt động như ngân hàng thương mại là điều rất phổ biến.
    Làn sóng nới lỏng quản lý xảy ra mạnh mẽ ở Mỹ hơn ở châu Âu. Châu Âu lục địa vẫn tiếp tục những luật lệ khá bảo thủ trong khi nước Mỹ muốn nói lỏng quản lý để giải quyết những vấn đề cụ thể do sự chia nhỏ thị trường. Việc nới lòng này cho phép nhiều người tham gia mới không có nhiều kinh nghiệm, làm tăng độ rủi ro của hệ thông. Việc tái quy định vào thập kỷ 80 có mục đích tạo ra bộ khung kết họp kiểm soát rủi ro và cạnh tranh lành mạnh.

những nhà làm luật

Luật và cạnh tranh

    Quá nhiều quy định làm cản trợ sự cạnh tranh. Những người bị giới hạn bởi quy định bị thiệt thòi so với những người khác. Các quy định giới hạn phạm vi hoạt động của ngân hàng thương mại, ảnh hưởng trực tiếp tói cạnh tranh tự do. Có rất nhiều ví dụ về mâu thuẫn này. Một ví dụ điển hình là cạnh tranh không công bằng giữa các ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng bởi quy định cũ ở Mỹ, áp đặt trần lãi suất với tiền ký gửi và những ngân hàng đầu tư mòi chào những quỹ mang lại thu nhập là lãi suất thị trường. Điều đó lôi kéo nhiều người gửi tiền đến với các quỹ thay vì ký gửi ngân hàng. Lý do của quy định Q là để giới hạn chi phí vốn cho các ngân hàng. Nhưng nó không thể ngăn cản những đối tượng tham gia khác mời chào những sản phẩm hấp dẫn hơn cho những người gửi tiền.
   Cạnh tranh không công bằng xuất phát từ những quy định phi kinh tế cộng với cạnh tranh giữa những người tham gia thúc đẩy việc nới lỏng quản lý. Các rào cản ngày càng được dỡ bỏ. Thập kỷ 70 và 80 là giai đoạn của làn song thay đổi đầu tiên trong ngành công nghiệp. Những luật lệ cũ biến mất và tạo ra một khoảng trống.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Quá trình của lãi suất ngắn hạn

    Chúng ta có thể minh họa quá trình của lãi suất ngắn hạn r(i) bằng cách đưa vào những dữ liệu đầu vào cần thiết. Mô phỏng độ trôi của lãi suất ngắn hạn khá đơn giản. Số hạng khuếch tán có phân phối chuẩn và có thể được mô phỏng từ một con số ngẫu nhiên chuẩn đều nhân với độ biến động. Sau đó, ta tích lũy những biến đổi trên những bước thời gian nhỏ. Ví dụ, bắt đầu với r(t)=10%, ta mô phỏng yếu tố “đổi mới” chuẩn chuẩn hóa, -0,7227 từ hàm ngược chuẩn chuẩn hóa và mô phỏng số hạng “đổi mói” bằng cách nhân. Chúng ta có một giá trị mới cho lãi suất ngắn hạn là 4,639%. Bắt đầu với giá trị mói này, chúng ta mô phỏng một lần nữa và tiếp tục. Đường đi của lãi suất ngắn hạn là ngẫu nhiên như được minh họa với 50 bước thời gian dưới đây trong hình 14.5.
     Các phương trình dạng đóng Vasicek tính toán giá trái phiếu B(t,T) và lãi suất R(t,T) vào thời điểm t. Giá trái phiếu không trái tức cho phép định chuẩn mô hình với một chuỗi các giá với những kỳ hạn khác nhau. Quá trình định chuẩn đòi hỏi tham số “trở lại giá trị trung bình” từ giá trái phiếu, nhập lãi suất dài hạn và độ biến động của lãi suất ngắn hạn. Một khi tham số “trở lại giá trị trung bình” đã biết, ta sẽ tìm ra cả B(t,T) và R(t,T) từ các công thức. Bằng cách thay đổi R(0,T), chúng ta tìm ra toàn bộ cấu trúc thời hạn của lãi suất không trái tức.

lãi suất ngắn hạn


    Những dữ liệu đầu vào là /1=0,3, n =0,1, r(0)=10% tới 1% với các bước 1%. Tốc độ “trở lại giá trị trung bình” được định chuẩn trong ví dụ này từ lãi suất không trái tức đồng Euro sử dụng hàm hợp lý cực đại (maximum likelihood function). Phương trình cho giá trái phiếu và lãi suất là:
Giá trái phiếu và lãi suất phụ thuộc vào những hàm số. Trong ứng dụng này, t = 0, ngày hiện tại.
Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất được tạo ra sau khi ta đã định chuẩn quá trình mô phỏng. Chúng có thể đi lên hoặc đi xuống và có những chỗ lồi, tùy vào dữ liệu đầu vào và việc định chuẩn. Với những giá trị như trên, chúng ta có nhiều biểu đổ phụ thuộc vào giá trị ban đầu của r(0), có thể được tạo ra ngẫu nhiên như minh họa ở trên. Giá trị được dùng để tạo ra những biểu đổ này được tóm tắt trong bảng 14.3.
Để tạo ra mỗi biểu đồ, ta bắt đầu với một giá trí ngẫu nhiên của r(0) và tính R(0,T) sử dụng công thức mô hình (hình 14.6).
Mô hình cho phép mô phỏng cấu trúc kỳ hạn của lãi suất. Nó chỉ tùy thuộc vào một nhân tố nên rất hạn chế.
    Để mô phỏng lãi suất, với ứng dụng quản lý tài sản nợ (ALM) hay giá trị gặp rủi ro (VaR), cách làm thông thường là dùng phương pháp phân tích thành phân chính, được miêu tả trong những mô hình nhân tố và được sử dụng ở phần sau trong chương về mô phỏng lãi suất 
Đăng bởi Để lại phản hồi

Quản lý rủi ro dựa vào việc đo đạc định lượng rủi ro

    Có nhiều chuẩn đo rủi ro. Độ nhạy đo phản ứng của một biến với sự biến động của một tham số thị trường, ví dụ lãi suất thay đổi 1%. Chúng là đầu vào cho những tính toán VaR hoặc giá trị tài sản co sở. Chúng được gọi là “nhân tố rủi ro”. Trong một vài trường hợp, độ nhạy có thể được tính từ những công thức cụ thể đưa ra giá của một tài sản, ví dụ như công thức Black-Scholes cho quyền chọn. Trong các trường họp khác, độ nhạy có thể được xấp xỉ bằng công thức khai triển Taylor. Trong công thức đó, sự thay đổi giá trị là hàm số của những thay đổi trong biến số nhân với đạo hàm riêng bậc một của từng nhân tố rủi ro. Độ nhạy cũng có thể được tính bằng số bằng cách thay đổi một nhân tố rủi ro và tính toán thay đối giá trị tài sản bằng số.
    Chương này đưa ra những ví dụ về các độ nhạy đối với cố phiếu, trái phiếu, giá trị theo thị trường của các khoản vay và quyền chọn. Độ nhạy của một vài công cụ như hợp đổng giao sau có thể được tính từ danh mục đầu tư sao chép. Công thức khai triển Taylor sẽ chi rõ giá trị tài sản thay đổi ra sao khi các nhân tố rủi ro thay đổi, bao gồm cả những số hạng bậc một (độ nhạy) và những số hạng bậc hai. Những công cụ tuyên tính phụ thuộc tuyên tính vào những thay đối trong nhân tố rủi ro. Phần cuối cùng giải thích ngắn gọn ứng dụng của độ nhạy cho phòng hộ, đòi hỏi ứng độ nhạy của công cụ được phòng hộ với độ nhạy của công cụ phòng hộ.

Quản lý rủi ro


ĐỊNH NGHĨA ĐỘ NHẠY
    Độ nhạy là phản ứng của một biến với những thay đổi của nhân tố rủi ro. Thay đổi trong giá trị có thể được biểu diễn bằng đơn vị tiền tệ hoặc % của giá trị ban đầu. Độ nhạy phần trăm là tỷ lệ giữa sự thay đổi giá trị tương đối với sự thay đổi trong tham số cơ sở. Ví dụ, với sự thay đổi 1% trong lãi suất, độ nhạy của giá trái phiếu là 5. Điều này có nghĩa là lãi suất thay đổi 1% tạo ra thay đổi trong giá trái phiếu là 5 X 1% = 5%. Độ nhạy có thể tính bằng đơn vị tiền tệ, là sự thay đổi giá trị của một công cụ khi một tham số cơ sở thay đổi. Nêu giá trái phiếu là $1000 thì thay đổi giá là 5% X 1000 = $50.
Gọi V là giá trị thị trường của một công cụ. Giá trị này phụ thuộc vào một hoặc nhiều tham số thị trường m, có thể là giá (ví dụ như chi sổ) hay phần trăm (ví dụ như lãi suất).
Từ những công thức trên ta suy ra mổì quan hệ đơn giản giữa độ nhạy phần trăm và độ nhạy giá trị.
     Độ nhạy chỉ là một xấp xỉ vì nó giúp tính toán sự thay đổi giá trị khi một tham số cơ sở có thay đổi nhỏ. Nó được gọi là một phép đo “cục bộ” bởi vì nó phụ thuộc vào giá trị hiện tại của tài sản và thông số thị trường. Nếu chúng thay đổi thì s và s cũng thay đổi.
    Phần lớn tài sản dựa vào nhiều nhân tố rủi ro và sự thay đổi giá trị là hàm số của nhiều thông số thị trường. Chỉ số k nói tới những thông số thị trường với k thay đổi từ 1 tới k.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Khe hở tĩnh và khe hở động

     Một khe hở động sẽ tĩnh tới phởng đoán về những giao dịch mới và mô phởng phản ứng của bảng cân đối tùy theo những dự đoán này. Dĩ nhiên, độ lớn và dầy của khe hở lãi suất sẽ thay đổi. Những dự đoán đó rất hữu ích với phòng hộ, bởi vì chúng ta có thể đưa ra những cách phòng hộ tùy theo khe hở động dự kiến thay vì khe hở tĩnh.

     Tuy nhiên, những giao dịch tương lãi có lãi suất chưa biết, dù cố định hay thả nổi. Những khoản vay tương lãi có lãi suất cố định sẽ tạo ra lãi tùy thuộc vào lãi suất thị trường trong tương lãi, và hôm nay, đó được coi là tài sản có lãi suất thả nổi. Những khoản nợ mới cũng có lãi suất không biết trước. Do đó, những giao dịch mới ảnh hưởng tới độ lớn của khe hở lãi suất thả nối, chứ không ảnh hưởng khe hở lãi suất cố định.

      Những phởng đoán đó đòi hỏi nhiều đầu vào và tạo ra rủi ro kinh doanh, tức là rủi ro gắn liền với những hoạt động kinh doanh mới. Các mô hình hay kịch bản kinh doanh cần phải cân nhắc cả rủi ro lãi suất và rủi ro kinh doanh, sẽ được giải thích ở chương 24. Thông thường, những dự đoán bảng cân đối được sử dụng để lên ngân sách chủ yêu vì ngân sách phụ thuộc vào kinh doanh trong những năm tiếp theo. Do đó, chúng ta tập trung vào khe hả tĩnh và xử lý rủi ro kinh doanh và các kịch bản trong chương 26.


khoản vay




         NHỮNG HẠN CHẾ CỦA KHE HỞ LÃI SUẤT

     Tuy có một vài hạn chế các báo cáo khe hở vẫn rất phổ biến và các quy định yêu cầu bắt buộc phải theo dõi những khe hở và làm rõ những giả định trong các phép tĩnh.

          Những lựa chọn ẩn trong sản phẩm ngân hàng
Một hạn chế nghiêm trọng của khe hở lãi suất là do những lựa chọn ẩn trong sản phầm ngân hàng, bao gồm: những khoản vay lãi suất thả nổi có giới hạn lãi suất khách hàng phải trả. Đây là một lựa chọn rõ ràng. Những lựa chọn khác ẩn đi, ví dụ khả năng khách hàng thỏa thuận lại lãi suất cố định của khoản vay khi lãi suất giảm. Trong trường hợp đó, ngân hàng có thể đánh một phí phạt. Trong môi trường cạnh tranh, các ngân hàng thường tuân theo yêu cầu của khách hàng vì họ không muốn bỏ qua doanh thu từ những sản phẩm khác bán cho khách hàng.

      Những lựa chọn ẩn thay đổi bản chất của lãi suất. Ví dụ, nếu lãi suất chạm vào giới hạn, nó sẽ trở thành cố định thay vì thả nổi. Khi thỏa thuận lại lãi suất của một khoản vay lãi suất cố định, lãi suất ban đầu cố định sau đó thành thả nổi. Vì khe hở lãi suất dựa trên bản chất của lãi suất, chúng không thể tính tới sự thay đổi từ cố định sang thả nối hay ngược lại. Rủi ro lựa chọn được thảo luận ở chương 25 và 27.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Ví dụ về khe hở lãi suất

       Nếu không có khe hở thanh khoản, khe hở lãi suất cố định và khe hở lãi suất thả nổi giống nhau theo giá trị tuyệt đối, Khe hở thanh khoản tạo ra khe hở lãi suất. Tiền dư sẽ được đầu tư và thâm hụt sẽ được cấp vốn vào một thòi điếm trang lai với lãi suất chưa biết. Thâm hụt dự kiến bằng với nợ nhạy với lãi suất. Thặng dư tương đương với tài sản nhạy với lãi suất.

       Trong ví dụ này, khe hở lãi suất thay đối trước và sau thâm hụt khác nhau một khoảng bằng khe hở thanh khoản, tương đương với nợ lãi suất thả nổi:

khe hờ lãi suất thả nổi trước khe hở thanh khoản = 40 – 35 = 5
khe hở lãi suất thả nổi sau khe hở thanh khoản = 5 – 40 = -35
Nói chung, cấp vốn sau của khe hở lãi suất thả nổi bằng khe hở lãi suất thả nổi trước cấp vốn trừ đi khe hở thanh khoản.

 lãi suất


       Cấp vốn sau của khe hở lãi suất thả nổi = khe hở lãi suất thả nổi trước cấp vốn I khe hở thanh khoản = 5 – 40 = -35

        Báo cáo khe hở mẫu sử dụng số dư trung bình của tài sản và nợ trong mỗi dải thời gian. Trục X là thời gian, phép tính ở đây được thực hiện trên cơ sở một tháng hoặc ngắn hon. Tài sản và nợ ở đây mang lãi suất cố định. Giống như khe hở thanh khoản, khe hở lãi suất chi cho thây tài sản và nợ hiện nay. Phần trên là tài sản và phần dưới là nợ, hiệu của chúng tạo thành khe hở lãi suất. Hình 23.2 cũng cho thây lãi suất trung bình dự kiến của tài sản và nợ có lãi suất cố định.

        Những biểu đổ này có Tất nhiều dữ liệu nhưng những tính toán cơ bản vẫn rất đơn giản.Những mô hình nội bộ tạo ra khả năng phóng to khe hở và tìm ra những giao dịch nào góp phần tạo nên khe hở. Chúng có thể được phân loại dựa theo loại sản phẩm, ví dụ vay tiêu dùng, vay thế chấp…