Đăng bởi Để lại phản hồi

Trường hợp trái phiếu lãi suất thả nổi

Giá trị của một trái phiếu thả nổi tạo ra doanh thu tính theo lãi suất bằng vái tỷ lệ chiết khấu sẽ không dựa vào những lãi suất hiện hành. Điều này hiển nhiên trong trường hợp một kỳ, bởi vì tài sản tạo ra ì+r vào cuối kỳ và dòng tiền chiết khấu với tỷ lệ r có giá trị hiện tại là (l+r)/(l+r)=l. Tính chất này ứng với những trái phiêu thả nổi nhiều kỳ bởi vì một trái phiếu như vậy có thể được sao chép bằng một chuỗi những trái phiếu một kỳ.

Vào mỗi thời điểm, trái phiếu một kỳ được thanh toán và doanh thu được dùng để đầu tư vào một trái phiếu khác. Vào cuối mỗi kỳ, chúng ta đi vay cho một kỳ mói với doanh thu từ lãi suất của kỳ trước. Vì vào đầu mỗi kỳ, giá trị của khoản nợ thả nổi là mệnh giá tất .cả những cồ phiếu một kỳ có giá trị bằng mệnh giá. Giá trị của cổ phiếu thả nổi hôm náy cũng là giá trị mệnh giá.

trái phiếu

Thời gian liên tục
Khi gộp liên tục thay vì gộp rời rạc, những công thức cơ bản cho giá trị tương lai và hiện tại rất đơn giản với rc là tỷ lệ chiết khấu liên tục và khung thời gian T:
B(t,T)-exp[-r(T-t]
Giá trị tương lai của dòng tiền hôm nay được tính là hàm mũ của r(T-t) hay exp[r(T-t)].
exp[-r(fc)*]
Chú ý tỷ lệ r có thể thay đổi theo thời gian
Giá trị tài sản và thu nhập thị trường yêu cầu
Bời vì giá trị tài sản là giá trị chiết khấu của tất cả những dòng tiền tương lai ở lãi suất thị trường, có một mối quan hệ ngược giữa giá trị trái phiếu lãi suất cố định và lãi suất. Bằng cách thay đổi tất cả các lãi suất cùng một lượng, ta thấy thừa số chiết khấu 1/(14- r + Ar)* giảm, khiến cho giá trị thấp hơn (hình 11.2). Ngoại lệ duy nhất là trái phiếu với lãi suất thả nổi vì nó có giá trị cố định.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Độ nhạy và các nhân tố rủi ro

Độ nhạy là tỷ số giữa sự thay đổi của một biến với sự thay đổi của những thông số cơ sở ngẫu nhiên. Điều này khiến cho độ nhạy là một thước đo rủi ro rất tiện lợi vì chúng liên hệ một biến với nguồn gốc của sự bất trắc ảnh hưởng tới biến đó. Nguồn gốc này có thể là tài sản cơ sở đối với phái sinh hay các tham số thị trường. Chúng được gọi là “nhân tố rủi ro”.


Công thức khai triển Taylor được giới thiệu ở chương 12, khi giới thiệu bổ đề Ito cho một hàm số với hai biến. Với một biến, công thức đơn giản hóa thành. Sự thay đổi nhỏ của X được viết là Ax. Công thức trên có nghĩa là, với những biến tất định, một sự thay đổi nhỏ của biến dẫn tới sự thay đổi của hàm có thật được xấp xỉ bằng số hạng bậc một của Ax. Một phép xấp xỉ chính xác hơn sẽ sử dụng cả số hạng bậc hai.

Đạo hàm thứ nhất áp dụng cho Ax là độ nhạy, số hạng bậc hai là sự thay đổi của độ nhạy khi Ax không thể bỏ qua. Đạo hàm bậc hai là đạo hàm bậc một của độ nhạy. Chuỗi Taylor chỉ rõ sự thay đổi giá trị công cụ là một hàm số của những đạo hàm bậc một, hai, ba… Với những thay đổi lớn, nên tính cả những số hạng tiếp theo cao hơn bậc một. Trong tất cả các trường họp, sử dụng các số hạng bậc cao hơn bậc một tạo ra xấp xỉ tốt hơn vì nó bao gồm những mối quan hệ phi tuyên tính giữa giá trị và nhân tố rủi ro.

các nhân tố rủi ro

Khi những số hạng bậc hai có thể bỏ qua, công cụ được gọi là “tuyến tính” vì sự thay đổi giá trị của nó phụ thuộc tuyên tính vào các nhân tố rủi ro. Quyền chọn là những công cụ phi tuyên tính vì đoạn “gẫy” trong thu nhập khi tài sản cơ sở có giá trị bằng giá thực hiện. Giá trị quyền chọn có những thay đổi “nhẵn” hơn thu nhập vì giá trị thời gian của quyền chọn, nhưng delta sẽ thay đổi đáng kể với giá trị cơ sở.

Công thức trên có thể được mở rộng với mọi số lượng biến. Ví dụ, nêu ta có hai biến, công thức sẽ mở rộng và nhìn có vẻ phức tạp hơn, nhưng những thay đổi bậc một luôn là những đạo hàm bậc một. Công thức chung với hai biến rất nổi tiếng vì nó là xuất phát điểm cho bổ đề Ito. Trong trường hợp hai biến, hàm số là f(x,y) và khi dịch chuyển X, y một chút từ vị trí ban đầu (JC0 ,y0), thay đổi của hàm số cũng được xấp xỉ bỏi khai triển Taylor. Bây giờ, đạo hàm là các đạo hàm riêng theo một trong hai biến. Hàm số và đạo hàm riêng được tính ớ giá trị ban đầu (x0, y0 ) và Ax = X — x0, Ay = y — y0.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Độ nhạy và kiểm soát rủi ro

Kiểm soát rủi ro có nghĩa là kiểm soát độ nhạy với rủi ro bằng cách có những vị thế bù trừ cho những nhân tố rủi ro. Kích thước của vị thế phòng hộ tùy vào độ nhạy tương đối của công cụ được phòng hộ và công cụ phòng hộ, như trong trường hợp phòng hộ đoản vị của một quyền chọn. Phòng hộ delta có nghĩa là bù trừ giá trị quyền chọn với một vị thế trên công cụ. Đây là một hệ quả trực tiếp của việc tạo ra danh mục đầu tư không rủi ro vì mục đích đánh giá quyền chọn. Bởi vì quyền chọn có những độ nhạy khác nhau ngoài delta, chúng không được bảo hộ ví dụ như vega. Những vị thế phòng hộ phải tính toán đến tất cả những độ nhạy, đặc biệt là delta, gamma và vega đối với quyền chọn.

kiểm soát rủi ro

       Khi những công cụ phòng hộ không phụ thuộc vào đúng những nhân tố với công cụ được phòng hộ, sẽ có rủi ro cơ bản, nghĩa là hai vị thế không bù trừ nhau hoàn toàn. Trong kế toán phòng hộ, phòng hộ được công nhận dựa trên độ hiệu quả. Độ hiệu quả được tính bằng khả năng bù trừ cho những thay đổi giá trị của công cụ được phòng hộ, bao gồm bù trừ bao nhiêu, bao lâu và tương quan giữa nhân tố rủi ro của hai công cụ.
Danh mục đầu tư của các công cụ có thể nhạy với hàng trăm loại rủi ro khác nhau: lãi suất, tỷ giá, cổ phiếu… Quản lý rủi ro đòi hỏi tính toán độ nhạy với tất cả những nhân tố đó, trong khi những công cụ đơn lẻ chỉ nhạy với một số nhân tố rủi ro.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Trái phiếu thành tố không thể thiếu trong danh mục đầu tư

Từ khi chính phủ bắt đầu phát hành trái phiếu thường xuyên vào đầu thế kỷ 20 và đưa nó phát triển lên thị trường trái phiếu hiện đại, nhà đầu tư đã mua trái phiếu với nhiều lý do khác nhau: bảo toàn vốn, thu nhập, đa dạng hóa và phòng ngừa rủi ro đối với sự suy yếu của nền kinh tế hoặc giảm phát. Khi thị trường trái phiếu dần mở rộng và đa dạng hơn vào những thập niên 70, 80, các trái phiếu dần trải qua những biến động thường xuyên và lớn hơn về giá và nhiều nhà đầu tư bắt đầu kinh doanh trái phiếu, nắm bắt lợi ích tiềm ẩn: giá hoặc vốn, thặng dư. Giờ đây, các nhà đầu tư có thể chọn mua trái phiếu vì tất cả những lý do này.

Bảo toàn vốn: Khác với cổ phiếu, trái phiếu hoàn trả vốn gốc vào một ngày xác định hay còn gọi là ngày đáo hạn. Điều này làm cho trái phiếu thu hút những nhà đầu tư không muốn có rủi ro trên phần vốn gốc và những nhà đầu tư cần thực hiện nghĩa vụ nợ vào một thời điểm xác định trong tương lai. Các trái phiếu có thêm lợi ích là lãi suất chào bán xác định thường cao hơn lãi suất tiết kiệm ngắn hạn.

Thu nhập: Đa số trái phiếu mang lại cho nhà đầu tư thu nhập cố định. Căn cứ vào lịch xác định, có thể là hàng quý, nửa năm hoặc hàng năm, nhà phát hành chuyển trả lãi cho trái chủ và có thể được dùng để tái đầu tư vào những trái phiếu khác. Cổ phiếu cũng có thể tạo ra thu nhập từ các khoản cổ tức nhưng thường ít hơn so với trái tức và các doanh nghiệp có toàn quyền quyết định việc chi trả cổ tức trong khi trái chủ phải có trách nhiệm chi trả trái tức.

Thặng dư vốn: Giá trái phiếu có thể tăng vì rất nhiều nguyên do, gồm cả việc giảm lãi suất và việc cải thiện xếp hạn tín nhiệm của nhà phát hành. Nếu một trái phiếu được nắm giữ đến khi đáo hạn và lợi nhuận từ tăng giá trái phiếu trong dòng đời của trái phiếu không được hiện thực hóa thì giá trái phiếu đó sẽ dần lùi về bằng mệnh giá (100) vì nó tiến gần đến ngày đáo hạn và kỳ thanh toán vốn gốc. Tuy nhiên, nhà đầu tư có thể ghi nhận lợi nhuận từ giá trái phiếu tăng bằng cách bán trái phiếu sau khi giá trái phiếu tăng trước ngày đáo hạn hay còn gọi là thặng dư vốn. Ghi nhận thặng dư vốn trên trái phiếu làm gia tăng tổng lợi nhuận, bao gồm thu nhập và thặng dư vốn. Đầu tư vì tổng lợi nhuận đã trở thành chiến lược đối với trái phiếu được sử dụng rộng rãi trong suốt 40 năm qua. (Tham khảo thêm tại: “Chiến lược đầu tư trái phiếu”.)

Đa dạng hóa: Kết hợp các trái phiếu trong một danh mục đầu tư có thể giúp đa dạng hóa danh mục. Nhiều nhà đầu tư đa dạng hóa giữa các loại tài sản từ cổ phiếu và trái phiếu đến hàng hóa và các loại hình đầu tư khác với nổ lực mang rủi ro về mức thấp hoặc thậm chí là mức âm đối với danh mục của họ.

Phòng ngừa đối với sự trì trệ của nền kinh tế hoặc giảm phát: Các trái phiếu có thể giúp bảo vệ nhà đầu tư khỏi sự trì trệ của nền kinh tế vì nhiều lý do. Giá của một trái phiếu tùy thuộc vào việc nhà đầu tư định giá thu nhập mà trái phiếu mang lại. Phần lớn trái phiếu chi trả thu nhập cố định và không thay đổi. Khi giá của hàng hóa và dịch vụ tăng, điều kiện kinh tế được xem là lạm phát, một trái phiếu có thu nhập cố định trở nên kém hấp dẫn vì khoản thu nhập đó mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn. Lạm phát thường song hành với tăng trưởng kinh tế nhanh vốn làm gia tăng nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ. Trái lại, tăng trưởng kinh tế chậm thường dẫn đến lạm phát thấp làm cho thu nhập từ trái phiếu trở nên hấp dẫn. Sự chậm chạp của nền kinh tế là tín hiệu không tốt đối với lợi nhuận của doanh nghiệp và thu nhập chứng khoán làm gia tăng sức hấp dẫn của lợi nhuận từ thu nhập trái phiếu.

Nếu sự chậm chạp của nền kinh tế ảnh hưởng đến việc khách hàng thôi mua sắm và giá cả trong nền kinh tế bắt đầu giảm, điều kiện kinh tế khó khăn hay còn được xem là giảm phát, thì thu nhập từ trái phiếu trở nên hấp dẫn hơn vì trái chủ có thể mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn (do giá cả giảm) đối với cùng một khoản thu nhập. Nhu cầu đối với trái phiếu tăng và do đó giá trái phiếu và lợi nhuận của trái chủ cũng tăng.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Nâng hạng thị trường chứng khoán cần có sản phẩm Hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ (TPCP)

Để hướng đến mục tiêu nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi đã đến lúc cần phải tạo ra thêm sản phẩm mới để khơi thông dòng tiền vô cùng lớn chưa thể  chảy vào thị trường.

Các ngân hàng thương mại với việc nắm giữ khoảng 95% danh mục TPCP đang lưu hành, cũng như có nhiều lợi thế về vốn, tài sản… thì lại chưa có thị trường phái sinh trái phiếu chính phủ để giao dịch.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, khi nhà đầu tư thường xuyên giao dịch và sở hữu lượng lớn TPCP trên thị trường cơ sở thì họ có nhu cầu cao giao dịch trên thị trường phái sinh.

Mặt khác, để thị trường trái phiếu hiệu quả thì phải có cả thị trường TPCP cơ sở và phái sinh. Để giao dịch trên thị trường cơ sở có thanh khoản tốt thì giao dịch trên thị trường thứ cấp phải minh bạch thông qua cơ chế khớp lệnh trên sàn. Trong khi trên thực tế, các giao dịch trên thị trường thứ cấp tuyệt đại đa số là giao dịch thỏa thuận (việc đặt lệnh được thực hiện qua Sở GDCK Hà Nội sau khi đã có sự thảo thuận) và OTC, còn giao dịch thông qua yết giá trực tiếp và khớp lệnh trên sàn gần như không đáng kể.

Nếu không cải thiện tình trạng này, thì dù muốn, chúng ta không thể khơi thông dòng vốn chảy vào thị trường chứng khoán, tạo ra thanh khoản, thiết lập được cơ chế lãi suất thị trường minh bạch để các thành viên trong nền kinh tế mới có thể hoạch định được chiến lược kinh doanh lâu dài.

Giải quyết những thách thức trên, ý kiến từ giới chuyên gia cho rằng, cần mở cửa và khuyến khích các công ty chứng khoán và ngân hàng tham gia với tư cách là nhà tạo lập thị trường trái phiếu. Điều này không chỉ tạo độ sâu cho thị trường giao dịch Hợp đồng tương lai TPCP, mà còn gia tăng sức hấp dẫn, thu hút nhiều ngân hàng tham gia giao dịch sản phẩm phái sinh thứ hai này.

“Với quy định hiện hành, việc các ngân hàng thương mại phải giao dịch Hợp đồng tương lai TPCP thông qua mở tài khoản như các nhà đầu tư khác tại CTCK, mà không được trực tiếp bù trừ, thanh toán qua Trung tâm Lưu ký chứng khoán (VSD) sẽ phát sinh không ít vướng mắc, rủi ro…”, lãnh đạo một ngân hàng quan ngại. Theo đó, các ngân hàng thương mại thường giao dịch với lệnh có giá trị lớn, nhưng lại không được là thành viên giao dịch trực tiếp với VSD để bù trừ, thanh toán cho giao dịch của họ, nên sẽ ảnh hưởng đến tính chủ động trong giao dịch.

“Việc ngân hàng thương mại chưa được cấp phép hoạt động thanh toán, bù trừ trực tiếp với VSD sẽ gây khó cho hoạt động tham gia TTCK phái sinh của các tổ chức tín dụng. Phải giao dịch qua CTCK với các ngân hàng còn tạo nên những mối lo về bảo mật thông tin. Đó là chưa kể với các lệnh có giá trị lớn, việc giao dịch qua CTCK còn gây nên rủi ro về tốc độ xử lý lệnh.

Bộ Tài chính và Ủy ban cần lên kế hoạch làm việc với Ngân hàng Nhà nước để tháo gỡ các vướng mắc, tạo thuận lợi cho các thành viên tham gia thị trường, trong đó có việc để các ngân hàng được thực hiện bù trừ, thanh toán cho giao dịch phái sinh TPCP…

Việc Việt Nam có thêm sản phẩm mới để TTCK Việt Nam sẽ được nâng hạng ngay trong năm 2019. Đó là một tin tốt lành với hầu hết các nhà đầu tư, sau chuỗi ngày chờ đợi.

Nguồn: traiphieu.com

Đăng bởi Để lại phản hồi

Thuật toán NKT ( New Key Trade) Oscillator xây dựng danh mục đầu tư cổ phiếu tối ưu



BẢN PHÂN TÍCH MẪU


(Cổ phiếu lấy ví dụ minh họa)





Danh mục tối ưu và Chỉ số Vnindex

Đơn vị: 1.000 đồng
ThángABCDFVNINDEX
5/31/201221.017.8410.9012.5938.40429.20
6/29/201221.387.6710.3011.8935.90422.37
7/31/201220.268.009.8011.6631.00414.48
8/31/201219.896.909.6011.8125.50396.02
9/28/201219.145.708.5011.7422.80392.57
10/31/201220.074.608.5011.5822.60388.42
11/30/201220.914.3010.0011.5819.10377.82
12/28/201220.505.4011.9012.8321.80413.73
1/31/201322.805.2013.9015.0021.60479.79
2/28/201322.505.5016.5015.3021.20474.56
3/29/201322.405.2016.9014.2019.50491.00
4/26/201319.005.8020.5015.4015.20474.51
5/31/201319.306.0026.8016.8014.60518.39
6/28/201319.005.4023.4015.6014.00481.13
7/31/201318.506.6022.9015.9011.90491.85
8/30/201317.707.4020.2015.4010.00472.70
9/30/201316.906.9020.4016.2011.20492.63
10/31/201317.607.3020.3016.8011.90497.41
11/29/201318.608.0023.4018.0015.00507.78
12/31/201319.308.3025.1020.3018.50504.63
1/24/201423.908.7026.1028.1022.60560.19
2/28/201424.8011.0025.0029.4024.10586.48
3/31/201423.5012.0023.4029.3027.00591.57
4/29/201422.2010.6020.8026.0024.50578.00
5/30/201420.2010.8022.1026.8018.30562.02
6/30/201421.5011.3020.4029.2017.90578.13
7/17/201423.6012.7023.0033.8020.70590.37
Biến động giá cổ phiếu và VNINDEX
ThángABCDFVNINDEX
6/29/20121.78%-2.20%-5.50%-5.52%-6.51%-1.59%
7/31/2012-5.24%4.27%-4.85%-1.95%-13.65%-1.87%
8/31/2012-1.84%-13.75%-2.04%1.32%-17.74%-4.45%
9/28/2012-3.76%-17.39%-11.46%-0.65%-10.59%-0.87%
10/31/20124.88%-19.30%0.00%-1.32%-0.88%-1.06%
11/30/20124.19%-6.52%17.65%0.00%-15.49%-2.73%
12/28/2012-1.98%25.58%19.00%10.80%14.14%9.50%
1/31/201311.22%-3.70%16.81%16.89%-0.92%15.97%
2/28/2013-1.32%5.77%18.71%2.00%-1.85%-1.09%
3/29/2013-0.44%-5.45%2.42%-7.19%-8.02%3.46%
4/26/2013-15.18%11.54%21.30%8.45%-22.05%-3.36%
5/31/20131.58%3.45%30.73%9.09%-3.95%9.25%
6/28/2013-1.55%-10.00%-12.69%-7.14%-4.11%-7.19%
7/31/2013-2.63%22.22%-2.14%1.92%-15.00%2.23%
8/30/2013-4.32%12.12%-11.79%-3.14%-15.97%-3.89%
9/30/2013-4.52%-6.76%0.99%5.19%12.00%4.22%
10/31/20134.14%5.80%-0.49%3.70%6.25%0.97%
11/29/20135.68%9.59%15.27%7.14%26.05%2.08%
12/31/20133.76%3.75%7.26%12.78%23.33%-0.62%
1/24/201423.83%4.82%3.98%38.42%22.16%11.01%
2/28/20143.77%26.44%-4.21%4.63%6.64%4.69%
3/31/2014-5.24%9.09%-6.40%-0.34%12.03%0.87%
4/29/2014-5.53%-11.67%-11.11%-11.26%-9.26%-2.29%
5/30/2014-9.01%1.89%6.25%3.08%-25.31%-2.76%
6/30/20146.44%4.63%-7.69%8.96%-2.19%2.87%
7/15/20149.77%12.39%12.75%15.75%15.64%2.12%
Các thông cơ bản trong thuật toán NKT
Lãi suất trái phiếu chính phủ/tháng0.83%
ABCDFVNINDEX
 Biến động CP so với Vnindex 0.810.691.001.241.281.00
Rủi ro7.37%11.90%11.80%9.71%14.11%5.21%
Lợi nhuận của cổ phiếu0.71%2.56%3.57%4.29%-1.35%1.36%
Lợi nhuận kỳ vọng0.73%2.02%3.57%5.13%-1.97%1.36%
Ma trận mối quan hệ biến động giá giữa các cổ phiếu
ABCDFVNINDEX
DBC1.000.010.130.670.600.57
NDN0.011.000.260.330.270.30
PPC0.130.261.000.460.160.44
PVS0.670.330.461.000.540.67
SJS0.600.270.160.541.000.47
VNINDEX0.570.300.440.670.471.00
Tính tỷ trọng danh mục đầu tư
DANH MỤCABCDFTổng cộng
TỶ TRỌNG78.48%17.36%1.28%0.00%2.88%100.00%





I. Đội ngũ chuyên gia traiphieu.com chính là người bạn tri kỷ mà quý nhà đầu tư có thể gửi trọn niềm tin trong thời khắc quan trọng ra khi bạn ra quyết định:

1. Mua ?
2. Bán ?
3. Mua mã chứng khoán nào? Mức giá nào? Khối lượng bao nhiêu?
4. Bán chứng khoán nào?Mức giá nào? Khối lượng bao nhiêu?
5. Thời điểm nào đầu tư cổ phiếu hay trái phiếu, hoặc tiền gửi tiết kiệm?
6. Phân bổ tỷ trọng đầu tư vào từng loại tài sản?
7. Mức lợi nhuận bạn mong đợi trong một kỳ đầu tư (t+3, tuần, tháng, năm)?
8. Mức rủi ro bạn chấp nhận trong một kỳ đầu tư (t+3, tuần, tháng, năm)?



Lưu ý: Qúy nhà đầu tư tuyệt đối không gọi điện làm phiền chúng tôi nếu không nằm trong chương trình hợp tác. Lý do:


– Thứ nhất: Chúng tôi không phải là một tổ chức từ hiện hay tổ chức xã hội phi lợi nhuận Chúng tôi là một nhóm chuyên gia nghiên cứu thuật toán ứng dụng cho thị trường chứng khoán.

– Thứ hai: Chúng tôi chỉ được hưởng 20% trên phần tổng  lãi khi kết thúc một chu kỳ đầu tư nếu có lãi. Các bạn góp vốn, chúng tôi bỏ sức lao động để nghiên cứu chạy thuật toán. Tiền công lao động của chúng tôi đã gắn chặt với kết quả đầu tư, đó là một sự cam kết bằng vàng về chất lượng lao động.

– Thứ ba: Chúng tôi khi nhận được yêu cầu sẽ chạy thuật toán NKT sau đó đưa ra kết quả danh mục, nhà đầu tư tự đặt lệnh mua/bán.  Chúng tôi hoàn toàn không có bất kỳ thao tác nào trên tài khoản của các bạn.

Hotline:  0944 059 703                          Mail: traiphieu.com@gmail.com
Đăng bởi Để lại phản hồi

Những quy định về vốn dựa trên rủi ro

     Cơ sở vốn không chỉ giới hạn cho cổ phần cộng với thu nhập được giữ lại. Nó bao gồm bất kỳ khoản nợ nào phụ thuộc vào những cam kết của ngân hàng. Cổ phần đại diện cho ít nhất 50% cơ sở vốn đối với rủi ro tín dụng. Cổ phần còn được gọi là “vốn chủ chốt”.
     Tỷ số Cooke quy định rằng cơ sở vốn phải bằng ít nhất 8% tài sản gia quyền. Trọng số phụ thuộc vào chất lượng tín dụng của người đi vay và giao dịch. Đối với rủi ro thị trường, các quy tắc phức tạp hơn vì các quy định có mục tiêu nhắm vào kinh tế học của rủi ro thị trường, lợi dụng thông tin về các thông số và giá cả thị trường. Ý tưởng chính là giống nhau, xác định khoản chi phí vốn tối thiểu như lạ một hàm số của rủi ro, đánh giá bởi những quy tắc chi phí vốn hoặc mô hình dựa trên Var đối với rủi ro thị trường. Sau khi các mô hình dựa trên Var của ngân hàng được phê chuẩn vào năm 1996-1997, chúng trờ nên rất phổ biến trong ngành ngân hàng từ cuối thập niên 90.

vốn dựa trên rủi ro

Các yếu cầu vốn

     Theo truyền thống, vốn chỉ là một phần rất nhỏ trong tổng tài sản của các ngân hàng, đặc biệt khi so sánh yếu cầu tối thiểu với những tỷ lệ tương tự của những tổ chức phi tài chính khác. Tỷ lệ vốn bằng 8% tài sản bằng với tỷ số đòn bẩy (tỷ số nợ/ cổ phần) là 92/8=11,5. Đòn bẩy lớn bắt nguồn từ nhiều nhân tố. Hoạt động trơn tru của ngân hàng đỏi hỏi tiếp cận dễ dàng và ngay lập tức với các thị trường tài chính, miễn là rủi ro chấp nhận được.
     Tỷ số 8% của vốn so với tài sản có vẻ quá cao nêu so sánh với tỷ lệ vỡ nợ trung bình trong điều kiện thuận lợi, và có thể quá thấp cho những danh mục đầu tư với những người đi vay rủi ro cao trong điều kiện khó khăn. Nhưng tỷ số 8% là họp lý khi tính tới hiệu ứng phân tán hóa. Tỷ số này cho thây những nhà làm luật ước lượng một ngân hàng không thể thua lỗ hơn 8% danh mục đầu tư đối với rủi ro tín dụng, sau khi đã tính tới phân tán hóa.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Kiểm soát rủi ro phủ đầu so với bảo hiểm rủi ro

     Kiểm soát rủi ro nên mang tính phòng ngừa, trong khi bảo hiểm là thụ động, tức là sau khi sự việc xảy ra. Bảo hiểm tiền gửi tồn tại ở phần lớn các nước, đế đảm bảo an toàn cho người ký gửi. Nhưng bảo hiểm rủi ro tạo ra “rủi ro đạo đức” và gây ra xu hướng chấp nhận rủi ro. Về lý thuyết, nếu những người ký gửi có tiền gặp rủi ro với ngân hàng, họ sẽ theo dõi hành vi ngân hàng chặt chẽ. Trong thực tế nếu tiền ký gửi gặp rủi ro, bất kỳ dâu hiệu nào của rủi ro tăng cũng dẫn tới việc rút tiền và càng gây thêm khó khăn, có thể dẫn tới phá sản. Những cuộc tháo chạy ngân hàng đó lại xảy ra vào năm 2008. Đây là một lý do phải bảo hiểm những người gửi tiền khỏi phá sản ngân hàng, nhưng điều này là không đủ.
     Bảo hiểm bổ sung cho những chính sách phủ đầu để ngăn cản việc chấp nhận quá nhiều rủi ro và phòng tránh phá sản. Đối với nhà làm luật, mục tiêu là giảm thiểu rủi ro phá sản thay vì xử lý sau khi điều đó đã xảy ra. Giải pháp lý thuyết là các công ty tài chính kiểm soát rủi ro của họ trong những giới hạn cho phép. Nhà làm luật đặt ra các quy định dựa vào những mục tiêu đó. BIS (Ngân hàng Quyết toán quốc tê) BIS ở Basel đưa ra những quy định mới và những nhà làm luật quốc gia sẽ tiếp thu để thực thi chúng trong môi trường trong nước.

Kiểm soát rủi ro

Vốn thỏa đáng

     Một số quy định với mục đích giới hạn rủi ro một cách đơn giản đã có hiệu lực trong thòi gian dài. Ví dụ, một số tỷ số phải có những giới hạn tôi thiểu. Tỷ số thanh khoản yếu cầu tài sản ngắn hạn phải lớn hơn nợ ngắn hạn và tỷ số giữa khoản vay dài hạn với Khoản nợ dài hạn phải đạt một giá trị tối thiểu ở châu Âu.
Những tỷ số đó giới hạn rủi ro lệch hạn nhưng dần biến mất trong những thời kỳ cấp
Vốn đễ dàng. Sau năm 2008 chúng lại một lần nữa được nhìn nhận như một điều cần thiết.
    Cột trụ chính của những quy định mới là “vốn thỏa đáng”. Bằng cách áp đặt một lượng vốn phù hợp với rủi ro, các nhà làm luật tập trung vào rủi ro phá sản. Vốn dùng để bảo vệ các ngân hàng khỏi những thua lỗ không dự đoán được, những thua lỗ vượt trên thua lỗ dự đoán từ thống kê. Dự phòng thua lỗ tạo ra sự bảo hộ đầu tiên cho rủi ro tín dụng. Nhưng những thua lỗ vượt trên thua lỗ kỳ vọng sẽ làm ngân hàng sụp đổ nêu không đủ vốn. Hệ quả logic là vốn cần phải đủ để đáp ứng những thua lỗ không đoán trước, vượt quá những thua lỗ dự kiên.
    Các chi đạo được định ra bởi một nhóm các nhà làm luật trong cuộc họp ở Basel tại Ngân Hàng Quyết Toán Quốc tế (BIS) do đó được gọi là Hiệp ước Basel. Hiệp ước đầu tiên cần thực thi tập trung vào rủi ro tín dụng với tỷ số Cooke nổi tiếng. Tỷ số này đòi hỏi vốn tồì thiểu là một phần trăm cố định của tài sản. Phạm vi của các quy định mở rộng liên tục sau đó. Sự mở rộng ra rủi ro thị trường là một bước tiến lớn đối với rủi ro thị trường vào năm 1996-1997 bởi vì nó cho phép các ngân hàng sử dụng các mô hình giá trị gặp rủi ro đế đánh giá chi phí vốn cho rủi ro thị trường. Hiệp ước Basel 2 tháng 1 năm 2007 tăng cường đáng kể những quy định về rủi ro tín dụng. Lịch trình của những hiệp ước như sau:
• 1988: hiệp ước hiện tại được xuất bản
• 1996: Sửa Đổi Rủi Ro Thị Trường cho phép sử dụng những mô hình nội bộ
• 1999: Gói tư vấn đầu tiên về Hiệp Ước mới
• 2007: thực thi Hiệp Ước vốn Basel 2
     Những mục tiếp theo nói về hiệp ước 1988 và những quy định vốn rủi ro thị trường. Chương tiếp theo nói về Hiệp Ước mới, làm rõ hơn những yếu cầu về vốn cho rủi ro tín dụng.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Thách thức của những nhà làm luật

     Một số nhân tố giúp ổn định môi trường ngân hàng vào thập kỷ 70. Những quy định với các ngân hàng rất chặt chẽ. Ở Mỹ Ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư phải tách biệt. Ngân hàng thương mai nhận tiền và cho vay. Ngành công nghiệp ngân hàng thương mại bị chia nhỏ, chỉ được hoạt động ở cấp độ bang nhung không được sang các bang khác. Cạnh tranh hạn chế tạo ra lợi nhuận công bằng và ổn định. Luật giới hạn phạm vi hoạt động của các tài chính tín dụng và giới hạn rủi ro. Ở châu Âu, những luật này không được thực thi. Các ngân hàng lớn hoạt động toàn quốc trong thị trường vốn và hoạt động như ngân hàng thương mại là điều rất phổ biến.
    Làn sóng nới lỏng quản lý xảy ra mạnh mẽ ở Mỹ hơn ở châu Âu. Châu Âu lục địa vẫn tiếp tục những luật lệ khá bảo thủ trong khi nước Mỹ muốn nói lỏng quản lý để giải quyết những vấn đề cụ thể do sự chia nhỏ thị trường. Việc nới lòng này cho phép nhiều người tham gia mới không có nhiều kinh nghiệm, làm tăng độ rủi ro của hệ thông. Việc tái quy định vào thập kỷ 80 có mục đích tạo ra bộ khung kết họp kiểm soát rủi ro và cạnh tranh lành mạnh.

những nhà làm luật

Luật và cạnh tranh

    Quá nhiều quy định làm cản trợ sự cạnh tranh. Những người bị giới hạn bởi quy định bị thiệt thòi so với những người khác. Các quy định giới hạn phạm vi hoạt động của ngân hàng thương mại, ảnh hưởng trực tiếp tói cạnh tranh tự do. Có rất nhiều ví dụ về mâu thuẫn này. Một ví dụ điển hình là cạnh tranh không công bằng giữa các ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng bởi quy định cũ ở Mỹ, áp đặt trần lãi suất với tiền ký gửi và những ngân hàng đầu tư mòi chào những quỹ mang lại thu nhập là lãi suất thị trường. Điều đó lôi kéo nhiều người gửi tiền đến với các quỹ thay vì ký gửi ngân hàng. Lý do của quy định Q là để giới hạn chi phí vốn cho các ngân hàng. Nhưng nó không thể ngăn cản những đối tượng tham gia khác mời chào những sản phẩm hấp dẫn hơn cho những người gửi tiền.
   Cạnh tranh không công bằng xuất phát từ những quy định phi kinh tế cộng với cạnh tranh giữa những người tham gia thúc đẩy việc nới lỏng quản lý. Các rào cản ngày càng được dỡ bỏ. Thập kỷ 70 và 80 là giai đoạn của làn song thay đổi đầu tiên trong ngành công nghiệp. Những luật lệ cũ biến mất và tạo ra một khoảng trống.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Quá trình của lãi suất ngắn hạn

    Chúng ta có thể minh họa quá trình của lãi suất ngắn hạn r(i) bằng cách đưa vào những dữ liệu đầu vào cần thiết. Mô phỏng độ trôi của lãi suất ngắn hạn khá đơn giản. Số hạng khuếch tán có phân phối chuẩn và có thể được mô phỏng từ một con số ngẫu nhiên chuẩn đều nhân với độ biến động. Sau đó, ta tích lũy những biến đổi trên những bước thời gian nhỏ. Ví dụ, bắt đầu với r(t)=10%, ta mô phỏng yếu tố “đổi mới” chuẩn chuẩn hóa, -0,7227 từ hàm ngược chuẩn chuẩn hóa và mô phỏng số hạng “đổi mói” bằng cách nhân. Chúng ta có một giá trị mới cho lãi suất ngắn hạn là 4,639%. Bắt đầu với giá trị mói này, chúng ta mô phỏng một lần nữa và tiếp tục. Đường đi của lãi suất ngắn hạn là ngẫu nhiên như được minh họa với 50 bước thời gian dưới đây trong hình 14.5.
     Các phương trình dạng đóng Vasicek tính toán giá trái phiếu B(t,T) và lãi suất R(t,T) vào thời điểm t. Giá trái phiếu không trái tức cho phép định chuẩn mô hình với một chuỗi các giá với những kỳ hạn khác nhau. Quá trình định chuẩn đòi hỏi tham số “trở lại giá trị trung bình” từ giá trái phiếu, nhập lãi suất dài hạn và độ biến động của lãi suất ngắn hạn. Một khi tham số “trở lại giá trị trung bình” đã biết, ta sẽ tìm ra cả B(t,T) và R(t,T) từ các công thức. Bằng cách thay đổi R(0,T), chúng ta tìm ra toàn bộ cấu trúc thời hạn của lãi suất không trái tức.

lãi suất ngắn hạn


    Những dữ liệu đầu vào là /1=0,3, n =0,1, r(0)=10% tới 1% với các bước 1%. Tốc độ “trở lại giá trị trung bình” được định chuẩn trong ví dụ này từ lãi suất không trái tức đồng Euro sử dụng hàm hợp lý cực đại (maximum likelihood function). Phương trình cho giá trái phiếu và lãi suất là:
Giá trái phiếu và lãi suất phụ thuộc vào những hàm số. Trong ứng dụng này, t = 0, ngày hiện tại.
Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất được tạo ra sau khi ta đã định chuẩn quá trình mô phỏng. Chúng có thể đi lên hoặc đi xuống và có những chỗ lồi, tùy vào dữ liệu đầu vào và việc định chuẩn. Với những giá trị như trên, chúng ta có nhiều biểu đổ phụ thuộc vào giá trị ban đầu của r(0), có thể được tạo ra ngẫu nhiên như minh họa ở trên. Giá trị được dùng để tạo ra những biểu đổ này được tóm tắt trong bảng 14.3.
Để tạo ra mỗi biểu đồ, ta bắt đầu với một giá trí ngẫu nhiên của r(0) và tính R(0,T) sử dụng công thức mô hình (hình 14.6).
Mô hình cho phép mô phỏng cấu trúc kỳ hạn của lãi suất. Nó chỉ tùy thuộc vào một nhân tố nên rất hạn chế.
    Để mô phỏng lãi suất, với ứng dụng quản lý tài sản nợ (ALM) hay giá trị gặp rủi ro (VaR), cách làm thông thường là dùng phương pháp phân tích thành phân chính, được miêu tả trong những mô hình nhân tố và được sử dụng ở phần sau trong chương về mô phỏng lãi suất