Đăng bởi Để lại phản hồi

Các tài sản được lựa chọn làm tài sản cơ sở cho HĐTL tại Việt Nam

Trong giai đoạn đầu, các sản phẩm phái sinh được xây dựng dựa trên hai loại tài sản cơ sở là (i) chỉ số cổ phiếu niêm yết bởi Sở giao dịch chứng khoán và (ii) trái phiếu chính phủ.

Đây là hai sản phẩm HĐTL phù hợp cho việc ra mắt thị trường CKPS tại Việt Nam. Trong thời gian tới, các sản phẩm Hợp đồng Tương Lai và Chứng khoán Phái sinh khác trên các loại tài sản cơ sở sẽ được ra đời khi điều kiện thị trường phù hợp. HĐTL chỉ số cổ phiếu có các tháng đáo hạn như thế nào? Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu được niêm yết theo các bộ mã hợp đồng, mỗi mã hợp đồng tương ứng với một tháng đáo hạn.

Bộ mã hợp đồng được niêm yết dự kiến có các tháng đáo hạn là tháng hiện tại, tháng kế tiếp và 2 tháng theo chu kỳ quý gần nhất (tháng cuối quý là các tháng: tháng 3,tháng 6, tháng 9 và tháng 12)

Ví dụ: Tại thời điểm tháng 8-2016, Sở GDCK sẽ niêm yết bộ mã hợp đồng tương lai chỉ số cố phiếu bao gồm các tháng đáo hạn sau: tháng 8-2016 (tháng hiện tại), tháng 9-2016 (tháng kế tiếp), tháng 12-2016, tháng 3-2017 (2 tháng cuối quý gần nhất) HĐTL chỉ số cổ phiếu được thanh toán như thế nào? Cuối mỗi ngày giao dịch, một mức giá thanh toán cuối ngày được xác định làm cơ sở để Trung tâm bù trừ hạch toán lãi/lỗ cho các giao dịch phát sinh trong ngày hoặc giá trị của các vị thế đang nắm giữ như sau:

• Với những hợp đồng mở mới trong ngày: Lãi/lỗ vị thế mới mở = (Giá thanh toán cuối ngày – Giá giao dịch) x Hệ số nhân x Số lượng hợp đồng

• Với những hợp đồng đang nắm giữ: Lãi/lỗ với với vị thế đã có = (Giá thanh toán cuối ngày – Giá thanh toán cuối ngày liền trước) x Hệ số nhân x Số lượng hợp đồng Vào ngày giao dịch cuối cùng, một mức giá thanh thanh toán cuối cùng được xác định làm cơ sở để Trung tâm bù trừ hạch toán lãi/lỗ cho các vị thế còn nắm giữ tới thời điểm đó. Giá thanh toán cuối cùng của HĐTL CSCP được xác định dựa trên chỉ số cổ phiếu trên thị trường cơ sở vào ngày giao dịch cuối cùng. Khoản thanh toán cuối cùng = (Giá thanh toán cuối cùng – Giá thanh toán cuối ngày giao dịch liền trước) x Hệ số nhân x Số lượng hợp đồng.

 • Giá trị các khoản lãi/lỗ của từng loại vị thế được tính để xác định tổng giá trị của các vị thế của người đầu tư.

• Nếu giá trị vị thế của người đầu tư < mức ký quỹ tối thiểu thì người đầu tư được yêu cầu bổ sung ký quỹ về bằng mức ký quỹ ban đầu. • Nếu giá trị vị thế của người đầu tư > mức ký quỹ ban đầu thì người đầu tư có thể rút lãi (= giá trị vị thế – mức ký quỹ ban đầu). Lợi ích của giao dịch HĐTL trên chỉ số với giao dịch cổ phiếu đơn lẻ? Nhà đầu tư có thể sử dụng hợp đồng tương lai để thay thế cho việc mua chứng khoán cơ sở (cổ phiếu chứng chỉ quỹ, cổ phiếu đơn lẻ) để điều chỉnh danh mục đầu tư của nhà đầu tư. So với việc đầu tư vào các cổ phiếu đơn lẻ, hợp đồng tương lai chỉ số có một số ưu điểm sau:

• Người đầu tư có thể “mua cả thị trường cổ phiếu” thông qua việc mua hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu, thay vì phải mua từng cổ phiếu đơn lẻ hoặc phải đầu tư qua một công ty quản lý quỹ;
Page 21
21 • Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu mang lại lợi thế đòn bẩy cao hơn bất kỳ cổ phiếu đơn lẻ nào; • Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu chỉ cần yêu cầu phần vốn đầu tư thấp so với giá trị hợp đồng;

• Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu có rủi ro thấp hơn việc mua và nắm giữ cổ phiếu đơn lẻ; • Đầu tư vào HĐTL chỉ số cổ phiếu, người đầu tư chỉ phải theo dõi diễn biến một chỉ số, không cần phải theo dõi hàng trăm cổ phiếu đơn lẻ;

• Tính ứng dụng cao: một hợp đồng tương lai trên chỉ số có thể sử dụng làm công cụ phòng ngừa rủi ro cho nhiều danh mục chứng khoán khác nhau của nhà đầu tư.

• Tính minh bạch và độ an toàn cao: do tài sản cơ sở là chỉ số cổ phiếu bao gồm nhiều cổ phiếu thành phần, các hoạt động gây thao túng chỉ số sẽ khó thực hiện;

• Hình thức thanh toán dễ dàng và tiện lợi: do tài sản cơ sở là chỉ số cổ phiếu-không phải là một tài sản có thể chuyển giao, nên việc thanh toán hợp đồng tương lai trên chỉ số cổ phiếu được thực hiện bằng tiền dựa trên lãi/lỗ của các bên.

Việc thanh toán được Trung tâm Thanh toán Bù trừ thực hiện liên tục trong ngày, đảm bảo giảm thiểu tối đa tính rủi ro đối tác của hợp đồng. Với các lợi ích trên, sản phẩm hợp đồng tương lai chỉ số cố phiếu là sản phẩm được ưa chuộng nhất tại thị trường chứng khoán phái sinh trên các Sở Giao dịch Chứng khoán trên thế giới, với độ thanh khoản quan, được nhà đầu tư quan tâm.

HĐTL trái phiếu chính phủ có các tháng đáo hạn như thế nào? Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu được niêm yết theo các bộ mã hợp đồng, mỗi mã hợp đồng tương ứng với một tháng đáo hạn. Bộ mã hợp đồng dự kiến sẽ có các tháng đáo hạn là 3 tháng gần nhất theo chu kỳ quý (với tháng theo chu kỳ quý là tháng 3,tháng 6, tháng 9 và tháng 12)

Ví dụ:
Tại thời điểm tháng 10-2016, SGD sẽ niêm yết bộ mã hợp đồng tương lai trái phiếu bao gồm các tháng đáo hạn sau: 12-2016, tháng 3-2017 và tháng 6-2017 (3 tháng gần nhất theo chu kỳ quý) Nếu không có đúng trái phiếu để giao thì tôi có được phép dùng trái phiếu khác không? Nội dung mẫu Hợp đồng của HDDTL Trái phiếu Chính phủ sẽ quy định những loại trái phiếu được sử dụng làm tài sản chuyển giao. Trường hợp NĐT không có đúng loại trái phiếu kỳ hạn 5 năm để giao, có thể sử dụng trái phiếu khác để giao nhưng đảm bảo trái phiếu dùng để giao phải là một trong các trái phiếu đủ điều kiện trong rổ trái phiếu giao hàng do SGDCK và VSD quy định.

Hệ số chuyển đổi là gì? Được dùng làm gì? Hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ cho phép người bán thực hiện nghĩa vụ chuyển giao bằng một trong số các mã trái phiếu đáp ứng tiêu chuẩn thanh toán hợp đồng. Giá của trái phiếu thanh toán này được tính toán bằng cách sử dụng hệ số chuyển đổi (Conversion factor). Về bản chất, hệ số chuyển đổi là tỷ lệ hoán đổi giữa trái phiếu giả định của hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ với trái phiếu thanh toán (có cùng mệnh giá) tại ngày chuyển giao vật chất. Theo đó, giá của trái phiếu thanh toán sẽ được xác định tại mức lợi suất bằng với mức lãi suất danh nghĩa của trái phiếu giả định đó. Ví dụ: Hệ số chuyển đổi = 1,24 nghĩa là 1 trái phiếu thanh toán được quy đổi bằng 1,24 trái phiếu giả định tại ngày thanh toán cuối cùng của hợp đồng.

Sở GDCK Hà Nội có sử dụng cơ chế khớp lệnh như trên thị trường cổ phiếu không?
Cơ chế khớp lệnh đối với thị trường chứng khoán phái sinh sẽ tương tự như trên thị trường cổ phiếu đó là: ưu tiên giá và thời gian.

• Ưu tiên về giá: lệnh đặt bán với mức giá thấp hơn hoặc lệnh đặt mua với mức giá cao hơn sẽ được ưu tiên thực hiện trước;

• Ưu tiên về thời gian: các lệnh mua hoặc bán có cùng mức giá thì lệnh nào được nhập vào hệ thống giao dịch trước sẽ được ưu tiên thực hiện trước. Các loại lệnh được sử dụng khi giao dịch HĐTL? Lệnh giao dịch khi giao dịch HĐTL bao gồm các lệnh sau:

• Lệnh giới hạn: lệnh mua hoặc lệnh bán chứng khoán tại một mức giá xác định hoặc tốt hơn. Mức giá tốt hơn là mức giá cao hơn mức giá xác định đối với lệnh bán và mức giá thấp hơn mức giá xác định đối với lệnh mua.

• Lệnh thị trường: lệnh mua chứng khoán tại mức giá bán thấp nhất hoặc lệnh bán chứng khoán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường. Lệnh thị trường có thể là Lệnh thị trường giới hạn (MTK), Lệnh thị trường khớp toàn bộ hoặc hủy (MOK), lệnh thị trường khớp và hủy (MAK), v.v…

 • Lệnh giao dịch tại mức giá mở cửa/ đóng cửa ATO, ATC: lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá mở cửa (ATO) hoặc giá đóng cửa (ATC)

Đăng bởi Để lại phản hồi

Để tham gia giao dịch HĐTL, nhà đầu tư có thể thực hiện theo các bước

Nhà đầu tư cần mở tài khoản giao dịch tại công ty chứng khoán là thành viên giao dịch thị trường chứng khoán phái sinh và một tài khoản ký quỹ tại một thành viên bù trừ (có thể là một tổ chức khác nếu thành viên giao dịch của nhà đầu tư không phải là thành viên bù trừ):

Tài khoản giao dịch sẽ là tài khoản để nhà đầu tư đặt lệnh giao dịch chứng khoán phái sinh. Tài khoản ký quỹ sẽ là tài khoản nhà đầu tư nộp tiền hoặc/và tài sản dùng để ký quỹ cho hoạt động giao dịch trên tài khoản giao dịch của nhà đầu tư.

• Trước khi bắt đầu giao dịch, nhà đầu tư cần nộp tiền hoặc/và ký quỹ theo quy định;

• Nhà đầu tư tiến hành tham gia giao dịch HĐTL theo hướng dẫn của Thành viên giao dịch và bổ sung ký quỹ khi được yêu cầu. Nhà đầu tư có thể tham khảo các nội dung liên quan đến hoạt động giao dịch và thanh toán Chứng khoán Phái sinh của nhà đầu tư đã được quy định chi tiết tại Điều 6, 7,8 và 9 của Thông tư số 11/2016/TT-BTC. Vai trò của Thành viên Giao dịch (TVGD) và Thành viên Bù trừ (TVBT) đối với Nhà đầu tư là gì?

Nhà đầu tư chỉ được phép tham gia giao dịch và thanh toán hợp đồng tương lai thông qua thành viên giao dịch (TVGD) và thành viên bù trừ (TVBT) của thị trường CKPS tại Việt Nam. Theo Nghị định số 42/2015/NĐ-CP và Thông tư số 11/2016/TT-BTC, TVGD và TVBT sẽ có một số quyền và nghĩa vụ chính sau với nhà đầu tư: ❖ Đối với TVGD:

• TVGD phải ký hợp đồng mở tài khoản giao dịch với khách hàng ngoại trừ một số trường hợp được quy định tại khoản 4, điều 14 Thông tư số 11/2016/TT-BTC; • TVGD sẽ là tổ chức nhận, thực hiện lệnh giao dịch của nhà đầu tư; định kỳ theo yêu cầu của nhà đầu tư cung cấp đầy đủ thông tin về hoạt động trên tài khoản giao dịch. Việc nhận, thực hiện lệnh và xác nhận kết quả giao dịch của TVGD được quy định chi tiết tại Điều 15 Thông tư số 11/2016/TT-BTC;

• Dừng tiếp nhận, thực hiện lệnh giao dịch của nhà đầu tư mất khả năng thanh toán, trừ các giao dịch đối ứng (để đóng vị thế); ❖ Đối với TVBT:

• Thành viên bù trừ là đại diện ủy quyền của khách hàng, thay mặt khách hàng chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng đối với Trung Tâm Lưu ký Chứng khoán (VSD). Nhà đầu tư phải nộp tiền và/hoặc tài sản ký quỹ cho TVBT trước khi và trong suốt quá trình tham gia giao dịch theo hướng dẫn và quy định của TVBT.

• Xác định lãi lỗ vị thế, tính toán mức ký quỹ ban đầu, mức ký quỹ bổ sung và giá trị tài sản ký quỹ cho từng tài khoản giao dịch của nhà đầu tư. Yêu cầu nhà đầu tư bổ sung ký quỹ kịp thời và đầy đủ trong trường hợp giá trị tài sản ký quỹ không đáp ứng mức ký quỹ duy trì; hoàn trả phần tài sản ký quỹ vượt mức ký quỹ ban đầu theo yêu cầu của nhà đầu tư, giám sát, quản lý vị thế và tài sản ký quỹ của nhà đầu tư bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật;

 • Bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, mức bồi thường theo thỏa thuận của nhà đầu tư

Đăng bởi Để lại phản hồi

Rủi ro và lợi thế đòn bẩy của HĐTL là gì?

Lợi thế đòn bẩy là một đặc điểm khác biệt của CKPS đối với các chứng khoán cơ sở. Về cơ bản, khi tham gia giao dịch HĐTL, nhà đầu tư chỉ phải bỏ ra một khoản tiền (Ký quỹ) có giá trị nhỏ hơn giá trị của hợp đồng mà nhà đầu tư muốn tham gia (giá trị hợp đồng).

 Ví dụ:

• Nhà đầu tư có nhu cầu tham gia vị thế mua 01 hợp đồng tương lai trên chỉ số HNX30 đáo hạn vào tháng 05/2016. Nhà đầu tư đặt lệnh mua 01 hợp đồng với giá chào mua là 103 điểm và được khớp trên thị trường với giá trên. Như vậy nhà đầu tư đã được TTTTBT ghi nhận là đã tham gia 01 vị thế mua với giá 103 điểm.

 • Nếu tại mẫu hợp đồng tương lai chỉ số HNX30 quy định: hệ số nhân của 01 hợp đồng là 1 triệu đồng/điểm chỉ số thì giá trị 01 hợp đồng của nhà đầu tư trên bằng: 103 điểm * 1 triệu đồng/điểm chỉ số= 103 triệu đồng. Tuy nhiên, nếu mức ký quỹ ban đầu được quy định là 15%, thì thay vì việc phải bỏ ra 103 triệu, nhà đầu tư chỉ phải bỏ ra số tiền và/hoặc tài sản có giá trị= 103 triệu * 15%= 15,45 triệu đồng để tham gia hợp đồng.

 • Số tiền ký quỹ ban đầu này sẽ được TTTTBT sử dụng trong việc tính toán lãi/lỗ của nhà đầu tư. Ví dụ: khi giá hợp đồng tương lai tăng từ 103 lên 105 điểm, nhà đầu tư đang có lãi với giá trị bằng: (105-103) * 1 triệu đồng/điểm chỉ số = 2 triệu đồng. Giá trị ký quỹ của nhà đầu tư sẽ tăng: 15,45 triệu + 2 triệu= 17,45 triệu đồng.

 • Nếu như giao dịch tại thị trường cơ sở, thì phần trăm lãi của nhà đầu tư trên số tiền ban đầu bỏ ra sẽ chỉ bằng: (105-103)/103 *100%= 1,94%. Tuy nhiên, đối với hợp đồng tương lai, thì phần trăm lãi của nhà đầu tư sẽ bằng: (105-103)/15,45 * 100%= 12,95%. Như vậy có thể thấy, một biến động nhỏ về giá của hợp đồng tương lai có thể tạo ra hiệu ứng lãi/lỗ trên khoản đầu tư lớn hơn nhiều so với việc đầu tư vào các chứng khoán cơ sở.  Tuy nhiên, ví dụ nêu trên chỉ minh họa trường hợp nhà đầu tư có lãi.

Trong trường hợp có lỗ, nhà đầu tư có thể chịu thiệt hại lớn trên khoản tiền đã bỏ ra trong một khoảng thời gian ngắn.

 Rủi ro trong việc tham gia vào HĐTL là gì? Lợi thế đòn bẩy có thể được coi là con dao hai lưỡi với nhà đầu tư. Khi giá của hợp đồng tương lai biến động theo chiều hướng có lợi (ví dụ: giá hợp đồng tăng đối với nhà đầu tư nắm vị thế mua, giá hợp đồng giảm đối với nhà đầu tư nắm giữ vị thế bán), thì nhà đầu tư có thể ghi nhận một khoản lãi lớn trên giá trị ký quỹ ban đầu.

Nhưng ngược lại, khi giá hợp đồng biến động theo chiều hướng bất lợi, nhà đầu tư có thể sẽ phải chịu những khoản thiệt hại lớn trên khoản ký quỹ trong thời gian rất ngắn. Khi giá trị ký quỹ của nhà đầu tư xuống thấp hơn mức cho phép (mức Ký quỹ Duy trì), nhà đầu tư phải nhanh chóng bổ sung ký quỹ. Nếu không bổ sung ký quỹ kịp thời, nhà đầu tư buộc phải đóng một phần/toàn bộ vị thế đang nắm giữ bằng việc đặt lệnh đối ứng trên thị trường.

 Khi giá hợp đồng tiếp tục biến động bất lợi trong khi vẫn chưa đóng được vị thế, khoản ký quỹ của nhà đầu tư vẫn sẽ phải hứng chịu các khoản lỗ có thể lớn hơn giá trị ký quỹ. Khi đóng được vị thế, nhà đầu tư vẫn phải thanh toán các thiệt hại cho TTTTBT và công ty chứng khoán nếu như giá trị ký quỹ của nhà đầu tư không đủ để chi trả.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Ký quỹ là gì?

Ký quỹ tại thị trường CKPS là khoản tiền hoặc/và tài sản mà nhà đầu tư phải nộp trước khi tham gia vào hợp đồngđể đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng đã quy định.

Trước khi thực hiện đặt lệnh giao dịch hợp đồng, nhà đầu tư phải đảm bảo có đủ số tiền hoặc/và tài sản bằng tốithiểu Mức Ký quỹ Ban đầu được xác định theo công thức:

Mức Ký quỹ ban đầu= giá HĐ muốn mua/bán * hệ số nhân HĐ * số lượng HĐ mua/bán * tỷ lệ ký quỹ

Khi nhà đầu tư đảm bảo có đủ mức tiền và tài sản bằng tối thiểu mức Ký quỹ ban đầu, nhà đầu tư có thể đặt lệnhgiao dịch.

Khi giao dịch của nhà đầu tư được thực hiện thành công, nhà đầu tư sẽ được ghi nhận là đang nắm giữ vị thế hợpđồng.

Trong suốt quá trình nhà đầu tư nắm giữ vị thế, TTTTBT sẽ thực hiện hạch toán lãi/lỗ tại khoản ký quỹ này khi giácủa hợp đồng tương lai trên thị trường biến động. Khi giá HĐ biến động theo chiều hướng bất lợi, giá trị ký quỹ của nhàđầu tư đó sẽ gặp lỗ .

Khi giá trị ký quỹ này giảm xuống một mức ký quỹ là Mức Ký quỹ Duy trì (thường nhỏ hơn mức Kýquỹ Ban đầu), nhà đầu tư đó phải thực hiện bổ sung ký quỹ theo quy định để khoản ký quỹ bằng tối thiểu mức Ký quỹ Banđầu.Nếu giá của hợp đồng biến động theo chiều hướng có lợi, giá trị ký quỹ của nhà đầu tư tăng lên và nhà đầu tư cóthể rút bớt một phần ký quỹ.

Tuy nhiên, nhà đầu tư phải đảm bảo: giá trị ký quỹ còn lại sau khi rút không được thấp hơnmức Ký quỹ Ban đầu.

Khi nhà đầu tư thoát khỏi hợp đồng hoặc khi hợp đồng đáo hạn, nhà đầu tư sẽ nhận lại được khoản ký quỹ sau khiđã hạch toán các khoản lãi/lỗ và các chi phí phát sinh khác. Nếu khoản lỗ của nhà đầu tư lớn hơn giá trị ký quỹ của nhàđầu tư, nhà đầu tư có nghĩa vụ hoàn trả các khoản thiệt hại trên cho TTTTBT và công ty chứng khoán.

Vị thế là gì? Tại sao lại có quy định về giới hạn vị thế?Việc Nắm giữ Vị thế là việc nhà đầu tư đang tham gia vào 1 bên của hợp đồng. Nếu nhà đầu tư đặt lệnh chào mua01 hợp đồng và lệnh này được khớp trên thị trường, thì nhà đầu tư đó được coi là đang nắm giữ 01 vị thế mua. Ngượclại, Nhà đầu tư được coi là nắm giữ 01 vị thế bán nếu nhà đầu tư tham gia vào bên bán 01 hợp đồng. Giới hạn vị thế được đặt ra nhằm ngăn ngừa việc một cá nhân hoặc tổ chức có thể nắm giữ số lượng hợp đồngquá lớn, qua đó gây ảnh hưởng đáng kể lên giao dịch của chứng khoán phái sinh. Việc sử dụng giới hạn vị thế sẽ giúpduy trì thị trường ổn định và công bằng, qua đó đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư khi tham gia giao dịch chứngkhoán phái sinh.

Làm thế nào để thoát khỏi hợp đồng đang tham gia?Sau khi tham gia vào hợp đồng, nhà đầu tư có thể nắm giữ vị thế hợp đồng cho đến thời điểm đáo hạn của HĐhoặc thoát khỏi vị thế trước thời điểm đáo hạn. Ví dụ: nếu nhà đầu tư đang nắm giữ vị thế bán cần thoát khỏi HĐ thì nhàđầu tư cần đặt một/nhiều lệnh tại vị thế đối nghịch (tức là vị thế mua) trong đó: tổng số lượng hợp đồng chào mua bằngtổng số lượng vị thế bán đang nắm giữ với giá chào mua được thị trường chấp thuận. Nếu lệnh/các lệnh này được khớp,thì nhà đầu tư được coi là đã thoát khỏi toàn bộ vị thế của mình.Việc thoát khỏi hợp đồng (hay còn gọi là đóng vị thế) được nhà đầu tư thực hiện trong nhiều trường hợp:

•Khi nhà đầu tư không còn nhu cầu tham gia hợp đồng;
•Khi nhà đầu tư có nhu cầu chốt lãi/lỗ;

Khi nhà đầu tư đang nắm giữ số lượng vị thế vượt quá mức quy định;
•Khi nhà đầu tư không đủ khả năng bổ sung ký quỹ theo yêu cầu;HĐTL được thanh toán như thế nào?

Nguyên tắc thanh toán đối với HĐTL sẽ được quy định tại mẫu hợp đồng, theo đó việc thanh toán có thể được thựchiện dưới 1 trong 2 hình thức sau:

1. Thanh toán bằng tiền mặt: hình thức này thường được áp dụng cho một số loại HĐTL có tài sản cơ sở không thểchuyển giao (chỉ số cổ phiếu, lãi suất, thời tiết, kết quả bầu cử, v.v…) hoặc do tính chất phù hợp khi thiết kế sản phẩmnên được lựa chọn làm phương thức thanh toán cho sản phẩm đó. Giá trị tiền thanh toán sẽ được tính trên lãi/lỗ củakhoản ký quỹ của nhà đầu tư khi giá hợp đồng biến động trên thị trường.

2. Thanh toán bằng hình thức chuyển giao vật chất: áp dụng cho một số loại HĐTL có tài sản cơ sở có thể chuyểngiao (cổ phiếu đơn lẻ, trái phiếu, hàng hóa, v.v…) hoặc do tính chất phù hợp khi thiết kế sản phẩm. Vào thời điểm đáohạn, bên mua của HĐTL sẽ thực hiện chuyển tiền và bên bán HĐTL sẽ thực hiện chuyển giao tài sản cơ sở theo yêu cầucủa Trung tâm Thanh toán Bù trừ, thông qua hệ thống thanh toán của Trung tâm.Tại sao tôi nên giao dịch Hợp đồng Tương lai?Nguyên tắc giao dịch Hợp đồng Tương lai có nhiều đặc điểm tương tự giao dịch của chứng khoán cơ sở (cổ phiếu,trái phiếu). Tuy nhiên, hợp đồng tương lai có một số đặc điểm khác biệt sau đối với chứng khoán cơ sở:
•Tổng số lượng Hợp đồng Tương lai lưu hành không bị giới hạn: khác với cổ phiếu hay trái phiếu, Hợp đồngtương lai không có khái niệm tổ chức phát hành. Số lượng hợp đồng lưu hành trên thị trường phụ thuộc vàonhu cầu của nhà đầu tư.

Nhà đầu tư có thể tham gia vị thế bán hợp đồng tương lai mà không cần sở hữu tài sản cơ sở của hợp đồng đó.Nhà đầu tư không cần phải có đủ tiền bằng tổng giá trị của Hợp đồng để tham gia mua hợp đồng.
•Nhà đầu tư chỉ cần bỏ ra một số tiền (ký quỹ) bằng một phần giá trị của Hợp đồng mà nhà đầu tư muốn thamgia. Đây chính là Lợi thế đòn bẩy của Hợp đồng Tương lai.Với đặc điểm Lợi thế đòn bẩy, không bị giới hạn về số lượng hợp đồng lưu hành, có thể tham gia mua/bán màkhông cần sở hữu tài sản cơ sở/đủ tiền, Hợp đồng Tương lai là một sản phẩm ưa thích của những nhà đầu tư với mụcđích:
•Phòng hộ rủi ro: nhà đầu tư có thể giảm thiểu các rủi ro về biến động về giá của một loại tài sản bằng việc thamgia Hợp đồng tương lai.
•Đầu cơ: nhà đầu tư có thể kiếm lời với giá trị lớn dựa trên một khoản ký quỹ có giá trị nhỏ.
•Tìm kiếm cơ hội từ chênh lệch về giá: giá của Hợp đồng Tương lai và giá của Tài sản cơ sở của Hợp đồngthường biến động giống nhau, tuy nhiên trong một số trường hợp hai sản phẩm trên có biến động khác nhau,nhà đầu tư có thể tìm kiếm được lợi nhuận chênh lệch giá mà không phải bỏ ra bất kỳ khoản tiền nào.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Hợp đồng Tương lai là gì?

Hợp đồng Tương lai (HĐTL) là một sản phẩm được phát triển từ Hợp đồng Kỳ hạn (HĐKH). Về cơ bản, HĐKH và HĐTL là một hợp đồng thỏa thuận giữa 02 bên, theo đó, 02 bên sẽ thực hiện mua bán một/nhiều loại tài sản cơ sở nhất định với một mức giá và thời điểm thanh toán được thỏa thuận vào thời điểm lập hợp đồng. HĐKH là một hợp đồng có tính song phương, được lập lên trên cơ sở tự thỏa thuận giữa 02 bên hợp đồng. Hiếm có 2 HĐKH nào có tất cả nội dung điều khoản trong hợp đồng giống hệt nhau. Với tính chất song phương như vậy, HĐKH có 02 nhược điểm chính:

 (1) sau khi tham gia hợp đồng, nếu nhà đầu tư có ý định thoát khỏi các quyền lợi/nghĩa vụ với đối tác, nhà đầu tư sẽ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm bên thứ 3 để chuyển giao hợp đồng; (2) nhà đầu tư sẽ phải hứng chịu toàn bộ rủi ro trong trường hợp đối tác của hợp đồng không thực hiện các nghĩa vụ đã được quy định tại hợp đồng. Việc tham gia hợp đồng có thể đi kèm với các khoản chi phí không nhỏ liên quan đến việc giám sát nghĩa vụ hoặc trách nhiệm pháp lý khi đối tác không thực hiện hợp đồng.

HĐKH là một loại CKPS có lịch sử phát triển lâu đời và được nhiều đối tượng sử dụng làm công cụ phòng hộ rủi ro.

Tuy nhiên, trước nhu cầu của thị trường, sản phẩm HĐTL đã được ra đời để khắc phục các nhược điểm trên của HĐKH với những đặc điểm chính sau:

•Hợp đồng tương lai, khác với Hợp đồng kỳ hạn, đã được chuẩn hóa về các điều khoản trong hợp đồng bởi tổ chức quản lý thị trường là Sở Giao dịch Chứng khoán. Các điều khoản được chuẩn hóa sẽ được quy định tại Mẫu hợp đồng và bao gồm những điều khoản cụ thể về việc giao dịch và thanh toán của các bên. Nội dung này sẽ được giải thích kỹ hơn ở phần sau.

•Do được chuẩn hóa và đảm bảo tính đồng nhất của hợp đồng, các bên của Hợp đồng có thể dễ dàng giao
dịch Hợp đồng Tương lai trên thị trường tập trung theo nguyên tắc tương tự như giao dịch chứng khoán cơ
sở. Việc tham gia vào một hợp đồng mới hoặc thoát khỏi một hợp đồng có thể được thực hiện thông qua hoạt động giao dịch mua/bán hợp đồng trên thị trường.

• Do được giao dịch liên tục trên thị trường, nên giá của Hợp đồng Tương lai biến động liên tục tương tự như giá của chứng khoán tại thị trường cơ sở. Khi giá của Hợp đồng Tương lai biến động, giá trị khoản đầu tư của nhà đầu tư vào hợp đồng sẽ biến động và ghi nhận lãi trong trường hợp giá biến động theo chiều hướng có lợi hoặc ghi nhận lỗ trong trường hợp ngược lại. Việc ghi nhận lãi/lỗ này sẽ được thực hiện hằng ngày và được gọi là hạch toán hằng ngày.

•Để giảm thiểu rủi ro trong việc một bên mất khả năng thanh toán gây ảnh hưởng tới đối tác trong hợp đồng,
việc thanh toán sẽ được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là Trung tâm Thanh toán Bù trừ (TTTTBT). Nếu sử dụng cơ chế Thanh toán Bù trừ Trung tâm (CCP) thì Trung tâm thanh toán bù trừ sẽ là Bên Mua của mọi Bên Bán và Bên Bán của mọi Bên Mua của Hợp đồng. Cơ chế này đảm bảo một bên của hợp đồng sẽ vẫn nhận được tiền/tài sản trong trường hợp đối tác trong hợp đồng không có khả năng thanh toán theo nghĩa vụ đã quy định.

• Nhà đầu tư phải nộp ký quỹ trước khi tham gia giao dịch và phải duy trì khoản ký quỹ này theo các mức do TTTTBT quy định: để đảm bảo tính toàn cho thị trường, TTTTBT yêu cầu tất cả nhà đầu tư tham gia mua
hoặc/và bán hợp đồng phải nộp một khoản ký quỹ được gọi là Ký quỹ ban đầu cho TTTTBT, khi giá của hợp đồng tương lai biến động thì giá trị khoản ký quỹ này cũng sẽ biến động theo. Khi khoản ký quỹ này xuống thấp hơn mức kỹ quỹ được gọi là Ký quỹ duy trì, thì nhà đầu tư phải bổ sung tiền/tài sản để tăng giá trị ký quỹ bằng tối thiểu mức Ký quỹ ban đầu.

Thế nào là mua hợp đồng tương lai? Thế nào là bán hợp đồng tương lai?

Hợp đồng Tương lai sẽ luôn luôn tồn tại 02 bên của Hợp đồng là: Bên Mua và Bên Bán Hợp đồng. Nhà đầu tư được

coi là Bên Mua (hay còn được gọi là tham gia vị thế mua) hoặc Bên Bán (tham gia vị thế bán) của hợp đồng khi nhà đầu

tư đó đặt lệnh mua/bán hợp đồng trên thị trường và được khớp với lệnh đối ứng trên cơ sở về giá và khối lượng. Nếu

nhà đầu tư có nhu cầu mua tài sản cơ sở, hoặc/và kỳ vọng giá của tài sản cơ sở sẽ tăng trong tương lai, thì nhà đầu tư

sẽ tham gia mua Hợp đồng; ngược lại, nếu nhà đầu tư có nhu cầu bán tài sản cơ sở hoặc/và kỳ vọng giá của tài sản cơ

sở sẽ giảm trong tương lai, thì nhà đầu tư sẽ tham gia bán hợp đồng.

HĐTL chỉ được hình thành khi lệnh mua và lệnh bán hợp đồng được khớp trên thị trường giao dịch. Khi HĐ được

hình thành, TTTTBT sẽ bắt đầu thực hiện thanh toán bù trừ cho hợp đồng đó theo cơ chế Đối tác Bù trừ Trung tâm (sẽ

được giải thích ở nội dung sau). Theo đó, vào cuối ngày giao dịch, dựa vào các giá thanh toán hằng ngày và giá mà nhà

đầu tư đã mua/bán hợp đồng, TTTTBT sẽ tính toán lãi/lỗ của vị thế mà nhà đầu tư nắm giữ và thực hiện chuyển giao tiền

từ bên lỗ cho bên lãi. Hoạt động này được gọi là Hạch toán hằng ngày và được diễn ra trong suốt quá trình nhà đầu tư

tham gia hợp đồng.

Đối với trường hợp HĐTL thanh toán bằng hình thức chuyển giao vật chất, thì vào ngày thanh toán cuối cùng, tất cả

các hợp đồng còn tồn tại cho đến thời điểm cuối cùng thì sẽ được thanh toán bằng việc bên Mua và bên Bán chuyển giao

tiền và tài sản theo quy định của TTTTBT.

Thế nào là mẫu hợp đồng?

Mẫu hợp đồng, về cơ bản, là một dạng hợp đồng chuẩn, theo đó sẽ quy định các điều khoản về nghĩa vụ/quyền lợi

của tất cả nhà đầu tư tham gia vào hợp đồng này. Mục đích của việc có một hợp đồng chuẩn là để nhà đầu tư có thể dễ

dàng giao dịch hợp đồng (bao gồm mở hợp đồng mới hoặc thoát khỏi hợp đồng đã mở) một cách dễ dàng và ít tốn kém.

Nội dung mẫu hợp đồng của HĐTL thông thường sẽ quy định:

Loại tài sản cơ sở được dùng để xác định giá hợp đồng và để chuyển giao (trong trường hợp chuyển giao vật

chất)

Thời điểm đáo hạn của hợp đồng (tháng đáo hạn, ngày đáo hạn/ngày giao dịch cuối cùng, ngày thanh toán

cuối cùng): một hợp đồng có thể có nhiều tháng đáo hạn khác nhau để nhà đầu tư lựa chọn mua/bán. Tất cả

các hợp đồng sẽ đáo hạn vào một ngày nhất định trong tháng đáo hạn của hợp đồng. Sau ngày đáo hạn, hợp

đồng đó được hủy niêm yết và nhà đầu tư sẽ hoàn tất nghĩa vụ thanh toán vào ngày thanh toán cuối cùng.

Giá trị hợp đồng/hệ số nhân: giá trị bằng tiền của một hợp đồng tương lai. Giá trị/Quy mô hợp đồng được xác

định bằng giá của hợp đồng * hệ số nhân của hợp đồng.

Nguyên tắc giao dịch (bước giá, giá tham chiếu, giới hạn giá, phiên giao dịch,v.v…): quy định các nguyên tắc

về giao dịch hợp đồng mà nhà đầu tư phải tuân thủ khi tham gia mua/bán hợp đồng trên thị trường.

Nguyên tắc thanh toán bù trừ (giá thanh toán, phương thức thanh toán, tài sản chuyển giao, mức ký quỹ, giới

hạn vị thế, v.v…) quy định các nguyên tắc thanh toán bù trừ mà nhà đầu tư phải tuân thủ: mức ký quỹ là giá trị

tiền hoặc/và tài sản mà nhà đầu tư phải nộp trước khi và trong suốt quá trình tham gia hợp đồng.

Giá thanh toán (hằng ngày, cuối cùng) là các loại giá được tính vào cuối ngày giao dịch được dùng để xác

định lãi/lỗ trên từng vị thế của nhà đầu tư.

•Phương thức thanh toán: Hợp đồng có thể thanh toán bằng 02 hình thức: tiền hoặc/và chuyển giao vật chất.

•Tài sản chuyển giao là những loại tài sản được chấp thuận để chuyển giao khi thanh toán hợp đồng (nếu HĐTL

được thanh toán bằng hình thức chuyển giao vật chất).

•Giới hạn vị thế là tổng số lượng vị thế trên 1 loại hợp đồng mà nhà đầu tư được phép nắm giữ trong suốt quá trình tham gia hợp đồng.

Mẫu hợp đồng sẽ được Sở GDCK và TTTTBT công bố trước thời điểm niêm yết hợp đồng đầu tiên. Sau đó, Sở

GDCK và TTTTBT có thể điều chỉnh một số điều khoản trong mẫu hợp đồng để phù hợp với điều kiện thị trường. Việc điều chỉnh mẫu hợp đồng sẽ được các đơn vị trên công bố trước thời gian thực hiện điều chỉnh.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chứng khoán Phái sinh là gì?

.

Chứng khoán Phái sinh (CKPS) là một công cụ tài chính, trong đó giá trị của CKPS phụ thuộc vào giá trị của một hay nhiều loại tài sản cơ sở. Chứng khoán Phái sinh có dạng hợp đồng tài chính trong đó quy định quyền lợi và/hoặc nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng đối với việc thanh toán hoặc/và chuyển giao tài sản cơ sở với một mức giá được thỏa  thuận trước vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Tài sản cơ sở của Chứng khoán Phái sinh được chia thành 02 dạng chính:
• Hàng hóa: thực phẩm (ngũ cốc, thịt, cà phê, hồ tiêu, v.v…), kim loại (vàng, bạc, kẽm, v.v…), năng lượng (khí
đốt, dầu, v.v…), khác (thời tiết, kết quả bầu cử, v.v…)
•Công cụ tài chính: cổ phiếu (chỉ số cổ phiếu, cổ phiếu đơn lẻ), trái phiếu (trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa
phương, trái phiếu doanh nghiệp), Lãi suất (lãi suất ngân hàng, lãi suất ngoại tệ), Tiền tệ (USD, Yên Nhật,
Euro, v.v…), Chứng khoán phái sinh.


Chứng khoán Phái sinh được chia thành 04 loại chính:

•Hợp đồng Kỳ hạn (HĐKH): là thỏa thuận pháp lý giữa hai bên tham gia về việc mua và bán một loại tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với mức giá được xác định trước tại ngày thực hiện giao dịch.
•Hợp đồng Tương lai (HĐTL): là một dạng hợp đồng kỳ hạn đã được chuẩn hóa, niêm yết và giao dịch tại thịtrường tập trung (Sở Giao dịch chứng khoán).
•Hợp đồng Quyền chọn (HĐQC): là thỏa thuận pháp lý trong đó một bên có quyền yêu cầu thực hiện và bên kia có nghĩa vụ phải mua hoặc bán một lượng tài sản cơ sở theo mức giá đã được xác định trước tại hợp đồng trong một khoảng thời gian hoặc tại một thời điểm nhất định trong tương lai.
•Hợp đồng Hoán đổi (HĐHĐ): là một thỏa thuận pháp lý trong đó hai bên cam kết hoán đổi dòng tiền của một công cụ tài chính của một bên với dòng tiền của công cụ tài chính của bên còn lại trong một khoảng thời gian nhất định
Đăng bởi Để lại phản hồi

Sử dụng công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam trong phòng ngừa rủi ro chưa được chú ý đúng mức.

Các doanh nghiệp Việt Nam đã thực sự gặp phải những thách thức ngày càng gia tăng của các rủi ro trong kinh doanh như rủi ro về lãi suất và tỷ giá.

Nhưng đáng ngạc nhiên là các doanh nghiệp hầu như chưa thực sự làm gì để đối phó với các rủi ro này. Một số rất ít doanh nghiệp có sử dụng sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, nhưng cũng chỉ biết sử dụng đến hợp đồng kỳ hạn. Các hợp đồng phái sinh phức tạp hơn, chẳng hạn như quyền chọn tiền tệ hầu như ít có doanh nghiệp nào sử dụng.
Để tìm hiểu nguyên nhân vì sao các doanh nghiệp Việt nam vẫn chưa sử dụng phổ biến công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro kinh doanh.


alt 


1.1.Tổng quan về công cụ tài chính phái sinh:
1.1.1.Khái niệm về công cụ tài chính phái sinh:
Khái niệm:
            Công cụ phái sinh có thể dựa trên:
            + Tài sản thực là các tài sản vật chất bao gồm nông sản, kim loại, và các nguồn năng lượng.
            + Tài sản tài chính là cổ phiếu, trái phiếu/ các khoản vay và tiền tệ.
            Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phái hành trên cơ sở những công cụ tài chính như trị giá cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán và lãi suất nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận.
1.1.2. Phân loại công cụ tài chính phái sinh cơ bản:
1.1.2.1.Hợp đồng kỳ hạn:
            Khái niệm:
            Hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng giữa hai bên- người mua và người bán – để mua hoặc bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thoả thuận ngày hôm nay.
            Nếu vào ngày đáo hạn, giá thực tế cao hơn giá thực hiện, người sở hữu hợp đồng sẽ kiếm được lợi nhuận, nếu giá thấp hơn, người sở hữu hợp đồng sẽ chịu một khoản lỗ. 
            Đặc điểm:
            -Hợp đồng kỳ hạn thường được giao dịch trên thị trường phi tập trung, không có một qui định/thể chế nào bắt buộc đối với các giao dịch giữa các tổ chức/cá nhân. Các hợp đồng kỳ hạn là loại hợp đồng “song phương”, thực hiện vô điều kiện. Theo đó, hai bên phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ qui định trong hợp đồng.
            -Trong hợp đồng này người mua được gọi là người giữ thế trường vị (long position), người bán được gọi là người giữ thế đoản vị(short position).
            -Không thực hiện thanh toán bù trừ hàng ngày và giá trị khác “0” chỉ được hạch toán vào ngày đáo hạn cho bên thắng (+) và bên thua (-) nếu hợp đồng được thực hiện thành công.
            Ví dụ: Ngày 18/1/200x, Công ty A đang thương lượng ký kết hợp đồng xuất khẩu trị giá 200.000 USD. Hợp đồng sẽ đến hạn thanh toán vào ngày 18/7/200x, tức là 6 tháng sau kể từ ngày ký hợp đồng. Ở thời điểm thương lượng hợp đồng, tỉ giá USD/VND =20.400 trong khi tỷ giá ở thời điểm thanh toán 18/7/200x là chưa biết. Để tự bảo hiểm rủi ro tỷ giá, công ty liên hệ với Ngân hàng Eximbank để bán 200.000 USD, kỳ hạn 6 tháng. Sau khi tính toán, Ngân hàng chào tỷ giá mua kỳ hạn 6 tháng là 20.700. Vậy với tỉ giá này, công ty A  biết chắc  sau 6 tháng, doanh thu xuất khẩu của mình sẽ thu về là:
200.000USD X 20.700VND = 4.040.000.000VND
bất chấp tỉ giá giao ngay trên thị trường lúc đến hạn thanh toán là bao nhiêu đi nữa. 
1.1.2.2.Hợp đồng giao sau(tương lai):
            Khái niệm:  
            Cũng là hợp đồng giữa hai bên – người mua và người bán – để mua hoặc bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thoả thuận vào ngày hôm nay.
            Đặc điểm:
            – Các hợp đồng được giao dịch trên sàn giao dịch giao sau và chịu quá trình thanh toán hàng ngày. Hợp đồng giao sau tiến triển từ hợp đồng kỳ hạn và có nhiều đặc điểm giống với hợp đồng kỳ hạn.
            – Về bản chất, chúng giống tính thanh khoản của hợp đồng kỳ hạn. Mặc dù vậy, không giống với hợp đồng kỳ hạn, các hợp đồng giao sau được giao dịch trên thị trường có tổ chức, gọi là sàn giao dịch giao sau. Người mua hợp đồng giao sau, là người có nghĩa vụ mua hàng hoá vào một ngày trong tương lai, có thể bán hợp đồng trên thị trường giao sau. Điều này đã làm cho họ thoát khỏi nghĩa vụ mua hàng hoá. Ngược lại, người bán hợp đồng giao sau là người có nghĩa vụ bán hàng hoá vào một ngày trong tương lai, có thể mua lại hợp đồng trong thị trường giao sau. Điều này làm cho họ thoát khỏi nghĩa vụ bán hàng hoá.
            Hầu hết các hợp đồng tương lai được thực hiện qua trung tâm thanh toán bù trừ và phải trả phí. Các bên tham gia phải có tiền đặc cọc/ký quĩ để đảm bảo thực hiện hợp đồng. Bù lại hai bên “mua” và “bán” hợp đồng không nhất thiết phải biết nhau (tiết kiệm được chi phí “tìm nhau”) mà chỉ cần trao đổi qua trung gian. Sau khi thực hiện hợp đồng, các khoản tiền này sẽ được hoàn trả do đó thị trường tương lai bảo đảm an toàn cho các giao dịch. Trên thực tế, chính nơi giao dịch của các NHTM cũng đồng thời là “sàn” giao dịch các hợp đồng tương lai, và khi đó, NHTM đảm nhiệm luôn vai trò là trung tâm thanh toán bù trừ để làm dịch vụ cho khách hàng, hoặc tự mình kinh doanh với khách hàng. Khi tự mình kinh doanh, các NHTM thường “nhường” cho khách hàng đóng vai trò chọn trước là người mua hay là người bán còn bản than mình sẵn sang làm đối tác. Khi đó, các ngân hàng thông thường sẽ giữ vị thế sở hữu hàng hoá ngược với vị thế hiện thời trên thị trường giao ngay.
            Ví dụ:
            Khi ngân hàng là người mua trái phiếu trên thị trường giao ngay, thì cùng lúc đó ngân hàng sẽ ký luôn hợp đồng bán trái phiếu trên thị trường tương lai. Nếu đến thời điểm đáo hạn, lãi suất trên thị trường giao ngay giảm thì khoản lợi nhuận thu được từ thị trường tương lai sẽ bù đắp cho mức biến động lãi suất trên thị trường giao ngay, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro lãi suất.            
1.1.2.3.Hợp đồng quyền chọn:
            Khái niệm:
            Hợp đồng quuyền chọn là hợp đồng cho phép người mua quyền chọn quyền(không phải nghĩa vụ) mua (call) hoặc quyền bán (put) một công cụ hoặc một tài sản gốc theo giá cụ thể – giá thực hiện vào một ngày cụ thể trong tương lai.
            Có hai loại hợp đồng quyền chọn:
            + Hợp đồng quyền chọn mua (call): là thoả thuận cho phép người cầm hợp đồng có quyền mua sản phẩm từ một nhà đầu tư khác với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn của hợp đồng.
            + Hợp đồng quyền chọn bán (put): là thoả thuận cho phép người cầm hợp đồng có quyền bán sản phẩm cho một nhà đầu tư khác với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn hợp đồng
            Đặc điểm:
            – Khác với hợp đồng kỳ hạn là quyền chọn hầu như chỉ giao dịch ở các thị trường có tổ chức, và người mua quyền chọn phải trả một phí quyền. “Nhờ” có phí đặc cọc nên hợp đồng quyền chọn không bắt buộc các bên phải giao sản phẩm.
            – Hợp đồng quyền chọn chỉ quy định quyền giao hay nhận, mà không bắt buộc thực hiện nghĩa vụ của mình. Nếu không thực hiện quyền chỉ mất phí quyền chọn.
            -Giá trả cho quyền này, ngoài giá chính thức chỉ biết được từ hiệu số rủi ro kỳ vọng trong hợp đồng xác định trước rủi ro thực lúc đáo hạn thì người mua quyền còn phải trả trước phí đặt cọc cho người bán(premium). Phí đặc cọc, hay phí cuộc chơi chính là một bộ phận của giá để nhận ra năng lực dự báo rủi ro của người mua, do đó, phí đặc cọc trở thành giới hạn thấp nhất của rủi ro nếu người mua quyền “thua cuộc” và từ chối thực hiện hợp đồng vào thời điểm nào đó trong giới hạn thời gian hiệu lực của hợp đồng.
            Có hai kiểu thực hiện hợp đồng quyền chọn:
            + Quyền chọn theo kiểu Mỹ: thực hiện quyền chọn vào bất kỳ thời điểm nào trước ngày đáo hạn.
            + Quyền chọn theo kiểu Châu Âu: là thực hiện quyền chọn chỉ trong ngày đáo hạn.
            Thực tế hiện nay trên các thị trường chứng khoán, hầu hết chỉ thực hiện theo kiểu Mỹ.
            Ví dụ: Một người đầu tư mua 100 cổ phiếu dưới hình thức hợp đồng lựa chọn kiểu Châu âu với giá định trước là 100 USD/1 cổ phiếu, ngày đáo hạn là 2 tháng và quyền phí là 5 USD. Giả sử đến ngày đáo hạn giá cổ phiếu cổ phiếu thấp hơn 100 USD, thì nhà đầu tư có thể sẽ từ chối không mua và chịu mất 500 USD quyền phí (5×100). Trong trường hợp giá cao hơn nhà đầu tư sẽ thực hiện hợp đồng.
1.1.2.4. Hoán đổi (Swap):
            Khái niệm:
            Hoán đổi là công cụ phổ biến nhất. Hoán đổi là một hợp đồng trong đó hai bên đồng ý hoán đổi dòng tiền.
            Đặc điểm:
            – Hoán đổi là giao dịch trên thị trường OTC và không có qui định chuẩn.
            – Hạn chế của thị trường này khi muốn giao dịch, một bên đối tác phải tìm được đối tác bên kia đang sẵn sàng làm đối tác giao dịch 
            Ví dụ: Một bên đối tác hiện đang nhận được một dòng tiền từ một khoản đầu tư nhưng lại thích loại khoản đầu khác với dòng tiền không giống với dòng tiền của khoản đầu tư họ đang thụ hưởng. Bên đối tác này liên lạc với một dealer hoán đổi, thường đó là một công ty hoạt động trên thị trường OTC. Họ sẽ thực hiện vị thế đối nghịch trong giao dịch. Thực ra mà nói, bên đối tác và dealer đã hoán đổi dòng tiền cho nhau. Tuỳ thuộc vào sau đó, giá hoặc lãi suất thay đổi như thế nào, một bên sẽ thu được lợi nhuận hay bị lỗ. Lãi của bên này chính là từ khoản lỗ của bên kia.      
1.2.Thị trường công cụ tài chính phái sinh:
1.2.1.Khái niệm:
            Thị trường công cụ phái sinh là thị trường dành cho các công cụ tài chính phái sinh, những công cụ  mang tính hợp đồng, mà thành quả của chúng được xác định trên một hoặc một số công cụ tài sản khác.
            Chúng ta xem các công cụ phái sinh như là các hợp đồng, và giống như tất cả hợp đồng, chúng được thoả thuận giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó mỗi bên sẽ thực hiện nghĩa vụ gì đó cho bên kia. Các hợp đồng này có giá cả và người mua sẽ cố gắng mua với giả rẻ và người bán cố gắng bán với giá cao nhất.
1.2.2.Phân loại thị trường:
1.2.2.1.Sở giao dịch
            Thị trường tập trung còn gọi là Sở giao dịch là thị trường mà việc giao dịch mua bán  đươc thực hiện có tổ chức và tập trung tại một nơi nhất định.  
            Ví dụ:
            Thị trường chứng khoán mua bán hợp đồng trong tương lai là Hội đồng mậu dịch Chicago (Chicago Board of trade-CBOT).
            Sở thương mại Chicago – Chicago Mercantila Exchange – CME).
            Sở giao dịch các hợp đồng tương lai Luân đôn.
1.2.2.2.Thị trường OTC
            Thị trường phi tập trung là thị trường mà các hoạt động mua bán chứng khoán được thực hiện phân tán ở những địa điểm khác nhau chứ không tập trung tại một nơi nhất định. Trên thế giới, thị trường phi tập trung được tổ chức dưới hình thức một thị trường giao dịch (qua quầy-over the counter market)
1.3.Chủ thể tham gia vào thị trường công cụ tài chính phái sinh:
            Chủ thể tham gia thị trường gồm mọi thể nhân và pháp nhân có tham gia trên thị trường tài chính như: Chính phủ, Ngân hàng trung ương, Định chế tài chính là ngân hàng và phi ngân hàng,  những người quản lý vốn của doanh nghiệp, các doanh nhân, các nhà buôn, các nhà môi giới, và cả  những nhà đầu tư cá nhân
1.4.Bản chất và vai trò của các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro:
            – Quản trị rủi ro:
            + Thị trường sản phẩm phái sinh cho phép những người muốn làm giảm rủi ro của mình chuyển giao rủi ro cho những người sẵn sàng chấp nhận nó, đó là những nhà đầu cơ. Vì vậy, thị trường này rất có hiệu quả trong việc phân phối lại rủi ro giữa các nhà đầu tư, không có ai cần phải chấp nhận một mức rủi ro không phù hợp với bản thân mình. Và cũng vì thế mà họ sẵn sàng cung cấp nhiều vốn hơn cho thị trường tài chính, điều này tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, phát huy khả năng huy động vốn và giảm chi phí sử dụng vốn.
            + Bên cạnh đó, thị trường các sản phẩm phái sinh cũng là một công cụ hiệu quả cho hoạt động đầu cơ. Bởi ngưòi muốn phòng ngừa rủi ro phải tìm được một người khác có nhu cầu đối lập hoàn toàn với mình, tức là rủi ro của người muốn phòng ngừa rủi ro phải được hấp thụ bởi các nhà đầu cơ. Tại sao các giao dịch này lại có thể được thực hiện, khi mà thực tế rõ ràng là khi một bên có lợi thì tất yếu bên còn lại sẽ không thể tránh khỏi những thiệt hại? Bởi mỗi nhà đầu tư có một “khẩu vị rủi ro” khác nhau, khả năng chấp nhận rủi ro cũng khác nhau. Tuy nhiên, ai cũng có mong muốn là giữ cho các khoản đầu tư của mình ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Và thế là họ gặp nhau và tiền hành việc chuyển giao một phần rủI ro của mình cho đối tác.
            + Không giống như người ta thường nghĩ, thị trường phái sinh không dẫn vốn trong nền kinh tế vào những âm mưu đầu cơ khủng khiếp. Những nhà đầu cơ không phải là những tay cờ bạc. Chỉ đơn giản là thay vì giao dịch cổ phiếu, họ giao dịch các sản phẩm phái sinh và chính việc đầu tư vào công cụ tài chính phái sinh lại tạo điều kiện cho việc phòng ngừa các rủi ro ít tốn kém hơn và hiệu quả hơn. Bởi cần khẳng định chắc chắn rằng, thị trường phái sinh không hề tạo ra mà cũng chẳng thể phá huỷ được tài sản, chúng chỉ là những phương tiện chuyển giao rủi ro trên thị trường, những rủi ro sẵn có cuả thị trường tài sản, chuyển những khoản rủi ro đó từ những ngườI không đủ khả năng chấp nhận nó sang những người sẵn sàng tiếp nhận nó, chính là những nhà đầu cơ. Không có thêm bất kỳ một rủi ro nào được sinh ra trên thị trường này. Và lợi ích từ thị trường không chỉ bó hẹp trong lợi ích của những nhà đầu cơ mà nó lan toả ra toàn xã hội.
            – Thông tin hiệu quả hình thành giá
            + Các thị trường kỳ hạn và tương lai là nguồn thông tin quan trọng đối với giá cả. Đặc biệt, thị trường tương lai được xem là một công cụ chủ yếu để xác định giá giao ngay của tài sản. Điều này không hề bất bình thường, bởi có rất nhiều hàng hoá được giao dịch trên thị trường tương lai nhưng thị trường giao ngay của nó rất rộng lớn và phân tán nên rất khó có thể xác định được giá giao ngay của chúng. Ở đây, thường giá tương lai của những giao dịch sớm nhất sẽ được xác định là giá giao ngay.
            + Trên thế giớI, thị trường giao sau thường nhộn nhịp hơn nên các thông tin do nó cung cấp có tính tin cậy cao hơn. Những thông tin được cung cấp trên thị trường phái sinh dù trực tiếp hay gián tiếp đều góp phần hình thành giá  giao ngay trong tương lai một cách có hiệu quả mà những người tham gia thị trường có thể chốt lại trong giới hạn chấp nhận của mình.
            – Các lợi thế về hoạt động và tính hiệu quả:
            + Chi phí giao dịch thấp hơn. Điều này làm cho việc chuyển hướng từ các giao dịch giao ngay sang phái sinh ngày càng dễ dàng và hấp dẫn hơn.
            + Tính thanh khoản cao hơn hẳn so với thị trường giao ngay. Trước hết đó là yêu cầu một mức vốn để tham gia thị trường là tương đối thấp. Thêm nữa, tỷ suất sinh lời và rủi ro có thể được điều chỉnh ở bất cứ mức độ nào như mong muốn.
            + Các giao dịch bán khống được thực hiện dễ dàng hơn. Ngoài ra, các nhà đầu tư có thể tìm kiếm được những khoản lợi nhuận đáng kể từ chênh lệch giá, chênh lệch lãi suất. Tất cả các chủ thể tham gia thị trường đều có thể tìm thấy lợi nhuận.
            Thị trường phái sinh giúp các tín hiệu thị trường khó bị bóp méo. Vì thế, các nhà đầu cơ với ý định thao túng thị trường cũng có những khó khăn nhất định. Chính vì thế, đặt bên cạnh thị trường giao ngay, sự hiệu quả của thị trường phái sinh giúp nâng cao tính lành mạnh cho thị trường đó.
1.5. Lợi ích từ công cụ tài chính phái sinh:
            Là một bộ phận của Hệ thống tài chính quốc gia, việc hoàn thiện các công cụ tài chính phái sinh và phát triển thị trường công cụ tài chính phái sinh hiệu quả là thể hiện mức độ cao và chiều sâu của phát triển Hệ thống tài chính, sẽ là điều kiện cần để phát triển kinh tế ở tốc độ cao hơn. Cụ thể lợi ích của phát triển công cụ phái sinh, phát triển thị trường công cụ phái sinh hiệu quả được trình bày ngắn gọn như sau:
         – Xét ở góc độ tổng thể của nền kinh tế: Thị trường công cụ phái sinh đóng góp cho tăng trưởng kinh tế thông qua việc phát huy tốt các chức năng của hệ thống tài chính, đó là: Cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư; Sàng lọc, chuyển giao, và phân tán rủi ro; Giám sát doanh nghiệp; tăng tính thanh khoản của các công cụ tài chính (vận hành Hệ thống thanh toán thông suốt).
         – Xét ở góc độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có thể mua/ bán công cụ phái sinh với 2 mục đích: mục đích phòng ngừa rủi ro tài chính; mục đích đầu cơ, tạo lợi nhuận từ ứng dụng công cụ phái sinh, trên cơ sở tạo trạng thái mở về lãi suất/ ngoại tệ/ hàng hóa/ chứng khoán… Ngoài ra, khi sử dụng phối hợp nhiều công cụ phái sinh với đối tác khác nhau, trên những thị trường khác nhau có thể tạo lợi nhuận trên cơ sở không phải đối mặt với các trạng thái mở/ các rủi ro tài chính.   
        – Xét ở góc độ hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính: Các lợi ích thu được khi ứng dụng công cụ phái sinh cũng tương tự doanh nghiệp. Hơn thế nữa, với vai trò của trung gian tài chính, các tổ chức này có thể tăng nguồn thu từ thu phí với tư cách của người môi giới; đặc biệt, khả năng mở rộng, phát triển các mặt hoạt động khác của tổ chức tài chính như huy động vốn, cho vay, dịch vụ thanh toán, tư vấn… cũng tăng cao và hiệu quả hơn.
1.6.Rủi ro khi thực hiện công cụ tài chính phái sinh
               Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh và hoạt động của thị trường công cụ tài chính phái sinh cũng chứa đựng những rủi ro tiềm tàng rất lớn, thậm chí khi rủi ro xảy ra có thể làm cho doanh nghiệp bị phá sản hoặc khủng hoảng tài chính…nếu hoạt động của doanh nghiệp, của tổ chức tài chính, của thị trường không hiệu quả. Chính vì vậy, từng nhà quản trị doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước cần phải hiểu rõ về bản chất và những rủi ro gia tăng từ công cụ tài chính phái sinh.
            Ví dụ:
            Nếu xét riêng lẻ một nghiệp vụ quyền chọn: đối với người mua quyền chọn mua, lỗ nhiều nhất là mức phí quyền chọn, lãi thì có thể rất lớn:
Sơ đồ 2: Khả năng lãi/ lỗ của người mua quyền chọn mua ngoại tệ
alt
alt
Các loại rủi ro tiềm tàng khi mua/bán/ giao dịch các công cụ tài chính phái sinh:
            Rủi ro tín dụng: Rủi ro mà một bên đối tác đối với một công cụ phái sinh là nguyên nhân gây ra thất thoát tài chính cho đối tác khác do không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán.
            Rủi ro thị trường: Rủi ro mà giá trị thị trường hay dòng tiền tương lai của một công cụ phái sinh bị dao động do những thay đổi về giá thị trường, gồm các loại: rủi ro lãi suất; rủi ro tỷ giá; rủi ro giá cả khác.
            Rủi ro thanh khoản: Rủi ro do gặp phải khó khăn trong việc hoàn thành các nghĩa vụ đi kèm với trách nhiệm tài chính khi mua/ bán công cụ tài chính phái sinh.
            Tập trung rủi ro: tập trung rủi ro gia tăng từ các công cụ tài chính phái sinh có những tính chất tương tự và chịu ảnh hưởng tương tự do những thay đổi trong điều kiện kinh tế và các điều kiện khác.
            Rủi ro hoạt động: Rủi ro thiệt hại xuất phát từ quy trình hoạt động nội bộ, con người, và Hệ thống không hoạt động hoặc không đầy đủ hoặc từ các sự kiện bên ngoài liên quan đến hoạt động mua/ bán các công cụ phái sinh. 
Đăng bởi Để lại phản hồi

Công cụ phái sinh: Quyền lựa chọn (Option), Quyền mua trước (right),Chứng quyền (warrants), Hợp đồng kỳ hạn, Hợp đồng tương lai

Công cụ phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận.



 

II. Các loại công cụ phái sinh

1. Quyền lựa chọn (Option)

a. Khái niệm: Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hàng hoá với một mức giá xác định, và trong một thời gian nhất định. 
Các hàng hoá cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai.

b. Những yếu tố cấu thành một quyền lựa chọn 

– Tên của hàng hoá cơ sở và khối lượng được mua theo quyền.
– Loại quyền (chọn mua hay chọn bán).
– Thời hạn của quyền.
– Mức giá thực hiện theo quyền.

c. Những mức giá liên quan tới một quyền lựa chọn là: 

– Giá thị trường hiện hành của loại hàng hoá cơ sở.
– Giá hàng hoá cơ sở thực hiện theo quyền.
– Giá quyền lựa chọn.

Đối với quyền chọn mua, nếu giá thực hiện thấp hơn giá hiện hành của chứng khoán cơ sở, thì quyền đó được gọi là đang được tiền (in the money), tức là người có quyền có thể có lợi từ việc thực hiện quyền. Nếu giá thực hiện bằng với giá thị trường, quyền đang ở trạng thái hoà vốn ( at the money), và nếu cao hơn, gọi là đang mất tiền (out of money). Đối với quyền chọn bán thì ngược lại, người thực hiện quyền sẽ có lợi nếu giá bán thực hiện quyền cao hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở và sẽ bị mất tiền nếu giá thực hiện quyền thấp hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở. 

Giá trị mà người nắm giữ quyền lựa chọn sẽ nhận được bằng cách thực hiện quyền được gọi là giá trị nội tại (intrinsic value). Nếu quyền ở trạng thái bị mất tiền, giá trị nội tại bằng 0. Giá thị trường của một quyền thường ít nhất là bằng giá trị nội tại. Giá bán quyền được gọi là phần phụ trội, chênh lệch giữa giá bán quyền với giá trị nội tại (trong trường hợp quyền đang được tiền) được gọi là phần phụ trội giá trị theo thời gian. Nói cách khác, khi đó: 

Giá trị theo thời gian của quyền chọn mua = Giá quyền – (giá thị trường – giá thực hiện).

Ví dụ 1: Giá của một quyền chọn mua XYZ là 400.000 đồng, giá thị trường của XYZ là 42.000 đồng. Người giữ quyền có thể chiếm lấy 200.000 đ ngay tức thì bằng cách thực hiện quyền, tức là mua 100 cổ phần ( mức giá được quyền ấn định) với tổng chi phí 4.000.000 đồng, cũng theo mức giá thực hiện theo quyền là 40.000 đ một cổ phần; sau đó bán ngay với giá thị trường, thu về 4.200.000 đ. Giá trị nội tại của quyền là 200.000 đ. 

Mức phụ trội giá trị theo thời gian = giá quyền – giá trị nội tại = 400.000 đ – 200.000 đ = 200.000 đ 
Người mua vẫn sẵn sàng trả phần phụ trội cho các quyền lựa chọn vì họ nhận được nhiều lợi ích từ một quyền lựa chọn.

d. ứng dụng của quyền lựa chọn: 

Quyền lựa chọn cho phép nhà đầu tư thu được tỷ lệ % lợi tức trên vốn đầu tư cao nhất.
Ví dụ 2: Giả sử thị trường hiện nay của cổ phiếu XYZ là 42.000 VND/cổ phần, và bạn dự đoán sau nửa năm nữa, giá cổ phiếu XYZ sẽ tăng mạnh, lên tới 50.000 VND. Giả sử các quyền lựa chọn có liên quan đến giao dịch cổ phiếu XYZ được niêm yết, bạn có thể mua một quyền chọn mua cổ phiếu XYZ với giá 40.000 VND/cổ phần.

Trong vòng 6 tháng giá cổ phiếu XYZ tăng lên 50.000 VND/cổ phần. Bạn có thể buộc người bán giao 100 cổ phần XYZ cho bạn với giá 40.000 VND/cổ phần, sau đó bán chúng ra thị trường với giá 50.000 đồng.
Như vậy bạn đã tạo ra một lợi nhuận đáng kể. Trên thực tế bạn đã thu được lợi nhuận 60.000 đồng trên khoản đầu tư 40.000 đồng, vậy lợi suất là 150%, trong khoảng thời gian là 6 tháng.
Quyền lựa chọn được sử dụng để bảo vệ lợi nhuận

Ví dụ 3: Với XYZ đang có giá thị trường là 44.000 đồng, người sở hữu 100 cổ phần XYZ bán một quyền chọn mua XYZ 44.000 với giá quyền là 400.000 đồng.

Nếu giá thị trường của XYZ giảm xuống 40.000 đồng, người bán sẽ được bảo vệ trước khoản thua lỗ nhờ có 40.000 đồng nhận được từ việc bán quyền chọn. Nếu XYZ tiếp tục giảm giá thì đương nhiên người bán sẽ mất tiền. Như vậy khoản thu 40.000 đồng từ việc bán quyền lựa chọn tạo ra một sự bảo vệ cụ bộ đối với tình trạng sụt giá.

Nếu trong 6 tháng tới giá XYZ vẫn giữ nguyên, quyền sẽ không được thực hiện. Khoản thu phụ trội 40.000 đồng là một thu nhập bổ sung trên tổng đầu tư.

2. Quyền mua trước (right)

Quyền mua trước là một quyền lựa chọn mua có thời hạn rất ngắn, có khi chỉ vài tuần. Quyền này được phát hành khi các công ty tăng vốn bằng cách phát hành thêm các cổ phiếu thường. Quyền cho phép một cổ đông mua cổ phiếu mới phát hành với mức giá đã ấn định trong một khoảng thời gian xác định. 

Loại quyền này thường được phát hành theo từng đợt, mỗi cổ phiếu đang lưu hành được kèm theo một quyền. Số quyền cần để mua một cổ phiếu mới được quy định tuỳ theo từng đợt phát hành mới. 

Giá cổ phiếu ghi trên quyền thường là thấp hơn giá hiện hành của cổ phiếu. Giá của quyền tính bằng chênh lệch giữa giá thị trường hiện hành của cổ phần đang lưu hành và giá mua cổ phần mới theo quyền, chia cho số lượng quyền cần có để mua một cổ phần mới. 

Ví dụ: cổ phiếu bán theo quyền (giá thực hiện) là 800.000 đồng/cổ phần, nhưng có giá thị trường là 1.000.000 đồng, nếu cứ 10 quyền được mua một cổ phần mới thì giá của quyền được xác định theo công thức Vr = P0 – Pn/r

Trong đó: Vr là giá trị của một quyền, P0 là giá thị trường của cổ phiếu đang lưu hành, Pn là giá thực hiện cổ phiếu mới và r là số quyền cần có để mua một cổ phiếu mới.
Vậy, giá quyền ở đây là Vr = (1.000.000 – 800.000)/10 = 20.000 đồng.
Nếu không muốn thực hiện quyền, cổ đông thường có thể bán quyền trên thị trường trong thời gian quyền chưa hết hạn. Giá quyền có thể lên xuống trong khoảng thời gian chào bán, tuỳ thuộc biến động giá thị trường của cổ phiếu.

3. Chứng quyền (warrants)

Chứng quyền là quyền cho phép mua một số cổ phần xác định của một cổ phiếu, với một giá xác định, trong một thời hạn nhất định. Quyền này được phát hành khi tiến hành tổ chức lại các công ty, hoặc khi công ty muốn khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua những trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi nhưng có những điều kiện kém thuận lợi. Để chấp nhận những điều kiện đó, nhà đầu tư có được một lựa chọn đối với sự lên giá có thể xảy ra của cổ phiếu thường. 

Đặc điểm: 
Khác với quyền mua trước, chứng quyền có thời hạn dài hơn, do công ty đã phát hành công cụ cơ sở phát hành đồng thời với công cụ cơ sở. Khác với quyền lựa chọn (option), khi chứng quyền được thực hiện, nó tạo thành dòng tiền vào cho công ty và tăng thêm lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường.

Chứng quyền có thể được giao dịch tách rời với trái phiếu hay cổ phiếu mà nó đi kèm. 
Các điều kiện của chứng quyền được ghi rõ trên tờ chứng chỉ: số cổ phiếu được mua theo mỗi chứng quyền (thườnglà 1:1); giá thực hiện cho mỗi cổ phiếu; tại thời điểm chứng quyền được phát hành, giá này bao giờ cũng cao hơn giá thị trường của cổ phiếu cơ sở, và giá đó có thể cố định, có thể được tăng lên định kỳ; và thời hạn của quyền, đa số trường hợp là 5 đến 10 năm.

4.Hợp đồng kỳ hạn

Hợp dồng kỳ hạn là một thoả thuận trong đó một người mua và một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay.
 

Hàng hoá ở đây có thể là bất kỳ thứ hàng hoá nào; từ nông sản, các đồng tiền, cho tới các chứng khoán. 

Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do hai bên tự thoả thuận với nhau, dựa theo những ước tính mang tính các nhân. Giá hàng hoá đó trên thị trường giao ngay vào thời điểm giao nhận hàng hoá có thể thay đôỉ, tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đã ký kết trong hợp đồng. Khi đó, một trong hai bên mua và bán sẽ bị thiệt hại do đã cam kết một mức giá thấp hơn (bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thị trường. 

Như vậy bằng việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình. Vì chỉ có hai bên tham gia vào hợp đồng, cho nên mỗi bên đều phụ thuộc duy nhất vào bên kia trong việc thực hiện hợp đồng. Khi có thay đổi giá cả trên thị trường giao ngay, rủi ro thanh toán sẽ tăng lên khi một trong hai bên không thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, vì mức giá đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không chính xác. 

5. Hợp đồng tương lai

Hợp đồng tương lai, nhờ đặc tính linh hoạt của nó, đã khắc phục được những nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn, và thường được xem là một cách thức tốt hơn để rào chắn rủi ro trong kinh doanh. 
Những điểm khác biệt căn bản của hợp đồng tương lai so với hợp đồng kỳ hạn là:

1. Niêm yết trên sở giao dịch. Một giao dịch hợp đồng tương lai nói chung được xử lý trên một Sở giao dịch. Điểm này cho phép giá cả được hình thành hợp lý hơn, do các bên mua bán được cung cấp thông tin đầy đủ và công khai.

2. Xoá bỏ rủi ro tín dụng. Trong các giao dịch hợp đồng tương lai được niêm yết trên sở giao dịch, cả hai bên bán và mua đều không bao giờ biết về đối tác giao dịch của mình. Công ty thanh toán bù trừ sẽ phục vụ như một trung gian trong tất cả các giao dịch. Người bán bán cho công ty thanh toán bù trừ, và người mua cũng mua qua công ty thanh toán bù trừ. Nếu một trong hai bên không thực hiện được hợp đồng thì vẫn không ảnh hưởng gì đến bên kia. 

3.Tiêu chuẩn hoá. Các hợp đồng kỳ hạn có thể được thảo ra với một hàng hoá bất kỳ, khối lượng, chất lượng, thời gian giao hàng bất kỳ, theo thoả thuận chung giữa hai bên bán, mua. Tuy nhiên, các hợp đồng tương lai niêm yết trên sở giao dịch đòi hỏi việc giao nhận một khối lượng cụ thể của một hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu, theo một thời hạn được ấn định trước. 

4. Điều chỉnh việc đánh giá theo mức giá thị trường (Marking to market). Trong các hợp đồng kỳ hạn, các khoản lỗ, lãi chỉ được trả khi hợp đồng đến hạn. Với một hợp đồng tương lai, bất kỳ món lợi nào cũng được giao nhận hàng ngày. Cụ thể là nếu giá của hàng hoá cơ sở biến động khác với giá đã thoả thuận (giá thực hiện hợp đồng) thì bên bị thiệt hại do sự thay đổi giá này phải trả tiền cho bên được lợi từ sự thay đổi giá đó. Trên thực tế, vì không bên nào biết về đối tác của mình trong giao dịch, nên những người thua đều trả tiền cho công ty thanh toán bù trừ, và công ty này sẽ trả tiền cho những người thắng. 

Đăng bởi Để lại phản hồi

Những khái niệm cơ bản về chứng khoán phái sinh.

1. Thị trường chứng khoán phái sinh

Trong các thị trường tài sản, việc mua bán đòi hỏi hàng hoá hoặc chứng khoán phải được giao nhận hoặc là ngay lập tức hoặc là chỉ ít lâu sau đó. Việc thanh toán cũng thường được thực hiện tức thời mặc dù thỉnh thoảng cũng có trường hợp sử dụng một số thoả thuận tín dụng. Do đặc điểm như vậy nên chúng ta thường gọi là thị trường tiền mặt hoặc là thị trường giao ngay. Doanh số được thực hiện, khoản thanh toán được hoàn trả và hàng hoá, chứng khoán được giao nhận. Trong tình huống khác, hàng hoá hay chứng khoán vẫn được giao nhận vào một ngày sau đó, nhưng có các thoả thuận giúp cho người bán hoặc người mua được chọn là có thực hiện bán hay không các loại thoả thuận này, và nghiệp vụ này được thực hiện trong thị trường phái sinh.
Thị trường phái sinh là thị trường dành cho các công cụ tài chính phái sinh, những công cụ mang tính hợp đồng, mà thành quả của chúng được xác định trên một hoặc một số công cụ tài sản khác. Chúng ta xem các công cụ phái sinh như là các hợp đồng, và giống như tất cả hợp đồng, chúng được thoả thuận giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó mỗi bên sẽ thực hiện nghĩa vụ gì đó cho bên kia. Các hợp đồng này có giá cả và người mua sẽ cố gắng mua với giá rẻ và người bán cố gắng bán với giá cao nhất. Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính, như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn.
2. Thành viên của thị trường tài chính phái sinh 
– Người đầu tư: Họ sử dụng nghiệp vụ phái sinh để giảm thiểu hoặc loại bỏrủi ro do họ luôn phải đối mặt với những rủi ro do biến động giá cả của các sảnphẩm chính.
– Người đầu cơ: Với tâm lí muốn đánh cuộc trên những biến động giá cảcủa sản phẩm chỉnh nên họ sử dụng nghiệp vụ này như một đòn bẩy đặc biệt.
– Người cơ lợi (thực hiện lợi nhuận mà không có rủi ro): Bằng cách sửdụng chênh lệch giá giữa các thị trường tài chính khác nhau, họ đã sử dụng rấthiệu quả các nghiệp vụ phái sinh để hưởng chênh lệch giá.
Các nghiệp vụ tài chính phái sinh đều mang lại lợi ích cho các thành viên, chính vì vậy trên thị trường tài chính quốc tế, nghiệp vụ này đã phát triển rất mạnh với các nghiệp vụ phái sinh đa dạng và thị trường phái sinh đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu.
3. Công cụ tài chính phái sinh
Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ tài chính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận. Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỉ giá, trị giá cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất….Công cụ tài chính phái sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro, trong đó thường được sử dụng nhiều nhất là hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn và hợp đồng hoán đổi. Những công cụ trên sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu hoặc để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu.
4. Đặc điểm của công cụ tài chính phái sinh
– Chứng khoán phái sinh được tạo lập dựa trên một chứng khoán gốc. Giátrị của phái sinh được xác định dựa trên những sự kiện biến động về giá trong tương lai của chứng khoán cơ sở. Hoạt động của thị trường tài chính tạo cơ sở cho sự hình thành và phát triển các chứng khoán phái sinh. Các chủ thể tham gia thị trường tài chính tạo ra các công cụ phái sinh và sử dụng chúng để thực hiện mục đích kinh doanh hoặc hạn chế rủi ro trong đầu tư.
– Hoạt động của thị trường phái sinh góp phần làm tăng tính thanh khoảncủa các loại chứng khoán trên thị trường tài chính. Những nhà đầu tư có thể tìmkiếm lợi nhuận thông qua các giao dịch phái sinh mà không cần phải thực hiện mua bán chứng khoán thực tế.
Với sự xuất hiện chứng khoán phái sinh làm tăng số lượng hàng hoá trênthị trường tài chính. Những nhà đầu tư có thể tìm kiếm lợi nhuận thông qua các giao dịch phái sinh mà không cần phải thực hiện mua bán chứng khoán thực tế.
Giao dịch chứng khoán phái sinh góp phần giảm chi phí giao dịch, hạnchế rủi ro… Từ đó, tạo nên những lợi ích thiết thực cho các chủ thể tham gia, góp phần ổn định và phát triển thị trường tài chính.
– Được thực hiện vào một ngày trong tương lai.
5. Các loại chứng khoán phái sinh cơ bản
a. Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là công cụ lâu đời nhất, và có lẽ vì lí do đó mà nó ít phức tạp nhất. Hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, để hoặc bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thoả thuận ngày hôm nay. Nếu vào ngày đáo hạn, giá thực tế cao hơn giá hợp đồng thì người sở hữu hợp đồng sẽ kiếm được lợi nhuận, nếu ngược lại thì người sở hữu hợp đồng sẽ chịu một khoản lỗ.
– Là thỏa thuận song phương giữa các bên.
– Giá được ấn định theo thỏa thuận của các bên tham gia.
– Là hợp đồng tùy ý, phụ thuộc vào người mua, người bán.
Ví dụ: Vào ngày 01/04 , A ký hợp đồng kỳ hạn mua của B 10 tấn cà phê kỳ hạn 3 tháng với giá 926USD/tấn. Sau 3 tháng, tức vào ngày 01/07, B phải bán cho A 10 tấn cà phê với giá 926USD/tấn và A phải mua 10 tấn cà phê của B với giá đó, cho dù giá cà phê trên thị trường lúc đó là bao nhiêu đi nữa.
b. Hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai (hay còn gọi là hợp đồng giao sau) là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, để mua bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thoả thuận ngày hôm nay mà không phụ thuộc vào giá ở thời điểm thực hiện hợp đồng. Như vậy, hợp đồng tương lai khá giống với hợp đồng kỳ hạn. Sự khác biệt của chúng:
– Được giao dịch có tổ chức trên sàn giao dịch.
– Giá được điều chỉnh hàng ngày theo điều kiện thị trường.
– Là hợp đồng được tiêu chuẩn hóa.
– Độ rủi ro giảm đáng kể bởi sự đảm bảo của sàn giao dịch.
Ví dụ: vào đầu năm 2002, công ty A ký hợp đồng tương lai với công ty B mua 90 tấn gạo với giá 2USD/kg với thời điểm mua vào cuối năm 2003. Như vậy vào thời điểm mua, công ty B phải bán cho công ty A 100 tấn gạo với giá 2USD/kg và công ty A phải mua 90 tấn gạo của công ty B với giá đó, cho dù giá gạo trên thị trường vào cuối năm 2003 là bao nhiêu chăng nữa.
c. Quyền chọn: Mua và Bán
Quyền chọn: là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó cho người mua quyền nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay. Mặc dù các quyền chọn được giao dịch trong một thị trường có tổ chức nhưng phần lớn các giao dịch quyền chọn được quản lý riêng rẽ giữa hai bên. Những người này tự tìm đến với nhau, loại thị trường này gọi là thị trường OTC – loại thị trường quyền chọn xuất hiện đầu tiên.
Quyền chọn cũng có những nét giống với một hợp đồng kỳ hạn nhưng quyền chọn không bắt buộc phải thực hiện giao dịch còn người sở hữu hợp đồng kỳ hạn bắt buộc bắt buộc phải thực hiện giao dịch. Hai bên trong hợp đồng kỳ hạn có nghĩa vụ phải mua và bán hàng hoá, nhưng người nắm giữ quyền chọn có thể quyết định mua hoặc bán tài sản với giá cố định nếu giá trị của nó thay đổi. Có hai loại quyền chọn:
Quyền chọn mua:
Người mua quyền chọn trả một khoản tiền (gọi là phí quyền chọn) cho người bán. Người mua sẽ có quyền được mua một lượng tài sản nhất định theo một mức giá thoả thuận trước, tại một thời điểm xác định trong tương lai. Người bán nhận phí quyền chọn có trách nhiệm phải bán một lượng tài sản như đã thoả thuận cho người mua, theo mức giá đã thoả thuận, vào thời điểm xác định trong tương lai ( hoặc trước thời điểm đó) khi người mua muốn thực hiện quyền chọn mua.
Quyền chọn bán:
Người nắm giữ một lượng tài sản mua phí quyền chọn bán của nhà cung cấp quyền chọn bán để đảm bảo rằng tài sản của mình sẽ chắc chắn được bán ở một mức giá nhất định trong tương lai.
d. Hợp đồng hoán đổi
Hoán đổi là một hợp đồng trong đó hai bên đồng ý hoán đổi dòng tiền, một giao dịch mà cả hai bên đồng ý thanh toán cho bên còn lại một chuỗi các dòng tiền trong một khoảng thời gian xác định.
Ví dụ: Một bên đối tác đang nhận được một dòng tiền từ một khoản đầu tư , nhưng lại thích một loại đầu tư khác với dòng tiền mà mình đang thị hưởng. Bên đối tác này sẽ liên lạc với một môi giới hoán đổi, thường là một công ty hoạt động trên OTC, và họ sẽ thực hiện vị thế đối nghịch trong giao dịch. Tuỳ thuộc vào lãi suất hay giá sau đó như thế nào mà 1 bên sẽ thu được lợi nhuận hay là bị lỗ. Lãi của bên này chính là lỗ của bên kia. Thông thường giao dịch hoán đổi bao gồm các thanh toán lãi, trong một số trường hợp là thanh toán nợ gốc. Có 4 loại hoán đổi là hoán đổi tiền tệ, hoán đổi lãi suất , hoán đổi chứng khoán và hoán đổi hàng hoá. Hoán đổi được xem như là sự kết hợp giữa các hợp đồng kỳ hạn.
6. Vai trò của chứng khoán phái sinh đối với thị trường chứng khoán (TTCK)
Sự ra đời của thị trường chứng khoán phái sinh mang lại khá nhiều lợi ích cho nhà đầu tư. Không chỉ đưa ra những dấu hiệu chỉ báo giá trong tương lai của tài sản gốc, chứng khoán phái sinh còn là công cụ phòng vệ rủi ro cũng như đầu tư, đầu cơ hiệu quả. Những nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư chuyên nghiệp, các quỹ đầu tư am hiểu về thị trường và sử dụng thành thạo các công cụ chứng khoán phái sinh sẽ là những đối tượng đầu tiên quan tâm đến những sản phẩm mới này. Do đó, sự ra đời của TTCK phái sinh được kỳ vọng là sẽ làm tăng tính hiệu quả của TTCK, thu hút thêm vốn, tăng giá trị giao dịch và thanh khoản thị trường.
Là công cụ phòng vệ rủi ro hiệu quả, chứng khoán phái sinh đồng thời cũng có thể làm tăng rủi ro cho nhà đầu tư. Với các công cụ chứng khoán phái sinh, nhà đầu tư có thể tạo ra các vị trí tương tự như bán khống chứng khoán không căn cứ. Chẳng hạn, khi nhà đầu tư dự đoán chỉ số VN-Index đi xuống và bán một hợp đồng quyền mua, nếu dự đoán sai, VN-Index tăng điểm, khi đó nhà đầu tư đối mặt với nguy cơ thua lỗ không giới hạn. Hơn nữa, khi tham gia TTCK phái sinh, do chỉ cần bỏ ra số vốn ban đầu nhỏ, những nhà đầu cơ thường sẽ sử dụng đòn bẩy tài chính cao, sẽ làm tăng mức độ rủi ro và có thể tác động làm tăng biến động giá trên thị trường cơ sở.