Đăng bởi Để lại phản hồi

[ETFs (Quỹ hoán đổi Danh mục)] BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ ETF

Lời mở đầu
“Nếu không thể thắng được thị trường thì hãy đi theo nó”

Trong những năm gần đây, các quỹ đầu tư ETF (exchange-traded fund) liên tục được nhắc đến như một nhân tố mới trên TTCK Việt Nam. Với những hoạt động khá đặc thù của mình, các quỹ ETF luôn tạo ra những sự thay đổi mang tính bước ngoặt trên TTCK Việt Nam. Chắc hẳn trong tâm trí các NĐT không thể quên những phiên giao dịch “khủng” vào Ngày Thứ Sáu thứ ba trong mỗi tháng cuối quý. Một số NĐT gọi đó là những “Thước Phim ATC kinh dị”, với những lệnh mua/bán hàng triệu cổ phiếu trong 15 phút giao dịch. Hay những đợt bán ròng liên tục của NĐT NN dẫn đến sự sụt giảm mạnh của TTCK Việt Nam mà tác nhân gây ra không ai khác ngoài các quỹ ETF.

Dựa trên những hiểu biết cũng như kinh nghiệm quan sát về cách hoạt động, giao dịch của các quỹ ETF trong một thời gian dài, hôm nay chúng tôi hệ thống lại toàn bộ những vấn đề có liên quan đến ETF.

Nội dung được chia là 3 bài:

         Tổng quan về quỹ ETF

         Các quỹ ETF đang giao dịch tại TTCK Việt Nam

         Ảnh hưởng của ETFs đến TTCK Việt Nam và trade cùng ETFs

BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ ETF
Các nội dung chính
         Sự ra đời của ETF
         Quá trình phát triển của ETFs
          So sánh với các quỹ tương hỗ (Mutual Funds)
         Quá trình thành lập
1.      Sự ra đời của ETF
Một thống kê khá thú vị về kết quả hoạt động của 154 Quỹ tương hỗ trong 5 năm liên tục (2003 – 2007) cho thấy không có Quỹ nào thắng được thị trường.
Số năm
Số lượng quỹ tương hỗ có kết quả cao hơn kết quả chỉ số
2 năm liên tục
68
3 năm liên tục
37
4 năm liên tục
4
5 năm liên tục
0
Nguồn: CMoney, Fubon Securities Trust
Do vậy mô hình quản lý Quỹ theo kiểu chủ động (như các quỹ tương hỗ Mutual Fund) chưa chắc đã đem lại lợi nhuận cao cho NĐT. Điều này còn chưa tính đến việc quản lý theo kiểu chủ động nên chi phí quản lý mà các NĐT phải trả cho các công ty quản lý quỹ thường khá cao.
Do vậy, Nếu không thể thắng được thị trường thì hãy đi theo nó. Do đó ETFs (Exchange-Traded Funds- Quỹ hoán đổi Danh mục) đã ra đời.
ETFs là một dạng quỹ đầu tư được lập ra với mục đích mô phỏng lại tốt nhất một chỉ số nào đó (kể cả hàng hóa) (không thắng được thị trường thì đi theo nó).
v    Các đặc tính của ETF
         Tính mô phỏng: một danh mục chỉ số, một hàng hóa…
         Cơ chế: ETFs có cả mô hình giống Quỹ mở và Quỹ đóng
ETFs có cơ chế giao dịch giống quỹ mở trên thị trường sơ cấp (sở giao dịch) bằng cách hoán đổi CCQ và giống quỹ đóng trên thị trường thứ cấp (niêm yết). Theo đó, ETFs không mua lại CCQ từ NĐT mà mua lại CCQ từ tổ chức AP (Authorized participant) và với block lớn.
         Mô hình quản lý: đa số các Quỹ ETFs được quản lý theo mô hình bị động.
2.      Quá trình phát triển của ETFs
         Phát triển mạnh tại Mỹ từ năm 1993. Đến năm 2013 đã có gần 1.500 Quỹ ETFs đăng ký hoạt động với SEC và nhiều tổ chức khác đang chờ cấp phép. Hiện tại tại Mỹ tổng số tài sản ETFs quản lý khoảng 1.300 tỷ USD với tốc độ tài sản ngày càng tăng và vượt xa các Quỹ tương hỗ truyền thống.
         Đến hết Quý II/2014 trên toàn cầu hiện có hơn 5.000 Quỹ ETFs quản lý khoảng 7.000 danh mục, đầu tư vào khoảng 150 nước với tổng tài sản khoảng 2.500 tỷ USD tương đương 1/6 GDP của nước Mỹ và được giao dịch tại 50 Sở giao dịch.
3.      So sánh với các quỹ tương hỗ (Mutual Funds) 
ETFs
Mutual Funds
      Quản lý thụ động;
      TSSL tương đương mức Thị trường chung.
      Cập nhận NAV hàng ngày
      Tốn ít nhân lực
      Phí quản lý rẻ (~ 0.55%/năm).
     Quản lý chủ động;
     TSSL có thể cao/ thấp hơn mức của thị trường chung.
     Cập nhật NAV “định kỳ”;
     Tốn nhiều nhân lực;
     Phí quản lý mắc ( ~1.23%/năm).
4.      Quá trình thành lập
Quá trình thành lập của một quỹ ETF trải qua các bước được minh họa như sau:

Cụ thể gồm 5 bước như sau: (Lấy ví dụ về trường hợp V.N.M ETF của Vaneck)
(1)  Chủ ETF nộp đơn xin lập quỹ. (Vaneck nộp đơn xin thành lập quỹ)
(2)  Sau khi được chấp thuận, chủ quỹ ETF thỏa thuân với các thành viên lập quỹ hay nhà đầu tư tổ chức (Authorized participant – AP).
(3)  AP sẽ mua cổ phiếu tại thị trường sơ cấp (Thị trường CK Việt Nam) tạo thành một danh mục và hóan đổi chúng lấy các CCQ
(4)  AP mang các CCQ này niêm yết và bán chúng trên sàn (Sở GDCK NewYork NYSE)
(5)  Các giao dịch mua bán thứ cấp sau đó diễn ra như một chứng khoán bình thường.
Qua các bước trên, ta có một số thuật ngữ như sau:
         Lô đơn vị quỹ ETF (creation unit – CU): Đơn vị tối thiểu để phát hành/mua lại ETF trên thị trường sơ cấp. VD: 1 CU = 100.000 ETF.
         Danh mục chứng khoán cơ cấu (PDF-Portfolio Depository File): danh sách các chứng khoán cấu thành để phát hành/mua lại ETF. Giá trị 1 PDF = 1 CU.
         Danh mục đầu tư của quỹ ETF vật chất (Physical ETF): gồm phần lớn các mã chứng khoán có trong rổ chỉ số tham chiếu.
         Đơn vị ETF: đơn vị trong giao dịch trên thị trường thứ cấp (tại SGDCK) giữa các nhà đầu tư với nhau.
         NAV: Giá trị tài sản ròng của đơn vị ETF.
Ví dụ minh họa về CU, PDF và đơn vị ETF



Đăng bởi Để lại phản hồi

Nhập môn phân tích cơ bản


Phân tích cơ bản là một phương pháp dự đoán giá trị nội tại của một khoản đầu tư. Nó dựa trên lý thuyết rằng giá thị trường của một tài sản có khuynh hướng di chuyển về phía ‘giá trị thật’ hoặc ‘giá trị nội tại’ của nó.
 


Phân tích cơ bản trong chứng khoán bao gồm việc dự đoán định giá của một cổ phiếu và các xu hướng thị trường của cổ phiếu bằng cách phân tích bảng cân đối kế toán, kết quả sản xuất kinh doanh, bảng lưu chuyển tiền tệ, các chỉ số tài chính của bản thân doanh nghiệp; ở tầm vĩ mô cần phân tích các điều kiện kinh tế, chính sách của chính phủ và các yếu tố xã hội hiện tại trong một khung chu kỳ kinh doanh. Các nhà kinh doanh cổ phiếu đo lường tình trạng của nền kinh tế một quốc gia bằng cách xem xét các chỉ báo kinh tế cho biết:
Lãi suất
Tổng Sản phẩm Quốc nội (GDP)
Chỉ số Giá tiêu dùng (Lạm phát)
Các chỉ báo lao động
Chỉ số Bán lẻ và Niềm tin của Người Tiêu dùng
Cán cân Thặng dư Thương mại hoặc Nợ
Chính sách Tài chính và Tiền tệ của Chính phủ


traiphieu.com
Đăng bởi Để lại phản hồi

Ưu, nhược điểm của Phân tích Cơ bản


Xác định được giá trị nội tại của một khoản đầu tư. Xác định được những cơ hội đầu tư dài hạn. Phân tích cơ bản là tốt cho đầu tư dài hạn dựa trên xu hướng dài hạn. Khả năng xác định và dự báo xu hướng lâu dài về kinh tế, công nghệ, người tiêu dùng…vvv

Phân tích cơ bản sẽ giúp xác định các công ty đại diện cho một giá trị tốt. Một số các nhà đầu tư huyền thoại như Graham và Dodd, Warren Buffett và John Neff được xem là nhà vô địch của đầu tư giá trị. Phân tích cơ bản có thể giúp phát hiện ra các công ty với tài sản có giá trị, một bảng cân đối lành mạnh , doanh thu nhập ổn định, và tăng trưởng qua các năm.

Một trong những lợi ích rõ ràng nhất nhưng ít nhà đầu tư nhìn thấy đó là phân tích cơ bản cho ta biết thấu đáo về ngành nghề kinh doanh mà công ty đó đang hoạt động. Sau khi nghiên cứu siêng năng như vậy và phân tích, nhà đầu tư sẽ được biết được doanh thu chính của công ty và quá trình phân phối lợi nhuận của công ty. Thu nhập và lợi nhuận kỳ vọng có thể là trình điều khiến giá cổ phiếu biến động mạnh.
Yếu điểm của Phân tích Cơ bản

Có quá nhiều chỉ báo kinh tế vĩ mô và chỉ báo có thể khiến những nhà đầu tư mới lẫn lộn.

Phân tích cơ bản có thể cung cấp những hiểu biết tuyệt vời, nhưng nó có thể là cực kỳ tốn thời gian. Thời gian mô hình sản xuất thường định giá có mâu thuẫn với mức giá hiện tại.

Phần lớn các thông tin để phân tích đến từ công ty nên việc thông tin đó có đáng tin cậy hay không là một câu trả hỏi lớn đối với các nhà phân tích cơ bản. Mark Twain đã từng nói khi nói về các dữ liệu của các công ty cung cấp “có những lời nói dối, nói dối chết tiệt trong số liệu thống kê.”

Kết luận

Phân tích cơ bản có thể có giá trị, nhưng nó cần được tiếp cận một cách thận trọng. Nếu bạn đang đọc bản công bố thông tin của một nhà phát hành bạn cần phải đặt câu hỏi, họ nói thế với mục đích gì? Thông cáo báo chí là một công cụ PR quan trọng cho các công ty. Nhà đầu tư nên trở thành người đọc có kỹ năng để loại bỏ các thông tin không quan trọng và bỏ qua những quảng cáo thổi phồng.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Cổ đông chiến lược: Là ai, lợi ích và thách thức gì?

Cổ đông có nhiều loại cổ đông như: cổ đông thường, cổ đông ưu đãi, cổ đông sáng lập, cổ đông chiến lược, nhưng không phải cổ đông chiến lược luôn luôn đem lại triển vọng tươi sáng cho doanh nghiệp.

Cổ đông chiến lược: Là ai, lợi ích và thách thức gì?

Cổ đông thường, cổ đông ưu đãi, cổ đông sáng lập

Trong công ty cổ phần, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn mình đã góp vào doanh nghiệp.
Công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phần phổ thông và người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông.
Bên cạnh đó, có thể có thêm cổ phần ưu đãi và người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi .
Cổ phần ưu đãi gồm các loại như ưu đãi biểu quyết, ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại hay ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định.
Cổ đông sáng lập  là cổ đông tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản Điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần.
Theo Luật Doanh nghiệp, Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Trong vòng 3 năm kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập được quyền chuyển nhượng cổ phần cho cổ đông sáng lập khác.
Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Lúc đó, người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty.
Sau thời hạn ba năm, cổ đông sáng lập sẽ không bị hạn chế này.

Cổ đông chiến lược là ai?

Theo Nghị định 9/2011/NĐ-CP thì nhà đầu tư chiến lược là các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài: có năng lực tài chính và có cam kết bằng văn bản trong việc gắn bó lợi ích lâu dài với doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp sau cổ phần hóa về:
Chuyển giao công nghệ mới;
Đào tạo nguồn nhân lực;
Nâng cao năng lực tài chính;
Quản trị doanh nghiệp;
Cung ứng nguyên vật liệu;
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Cũng theo Nghị định này, số lượng nhà đầu tư chiến lược mua cổ phần tại mỗi doanh nghiệp cổ phần hóa tối đa là 03 nhà đầu tư, với thời gian cam kết nắm giữ tối thiểu 05 năm, kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Trường hợp đặc biệt cần chuyển nhượng số cổ phần này trước thời hạn thì phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận.
Giá bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược:
– Không thấp hơn giá đấu thành công thấp nhất của cuộc đấu giá công khai, nếu mua sau khi đấu giá.
– Không thấp hơn giá khởi điểm đã được phê duyệt, nếu mua trước đấu giá.
Đối với các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 10/2011/TT-NHNN quy định về các tiêu chí lựa chọn cổ đông chiến lược khi cổ phần hóa.
Theo đó, các tiêu chí chủ yếu mà cổ đông chiến lược nước ngoài phải đáp ứng gồm có:
– Là tổ chức tín dụng/tài chính có tổng tài sản tối thiểu tương đương 20 tỷ đô la Mỹ.
– Có trên 5 năm kinh nghiệm hoạt động quốc tế.
– Được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập quốc tế (Moody’s, Standard & Poor, Fitch Rating …) xếp hạng ở mức có khả năng thực hiện các cam kết tài chính và hoạt động bình thường ngay cả khi tình hình, điều kiện kinh tế biến đổi theo chiều hướng không thuận lợi.
– Không là cổ đông chiến lược, cổ đông lớn, cổ đông sáng lập tại bất kỳ tổ chức tín dụng nào tại Việt Nam .

Lợi ích gì từ cổ đông chiến lược?

Với những trình bày ở trên, có thể thấy các tiêu chí đối với cổ đông chiến lược trong lĩnh vực ngân hàng là cụ thể hơn, nhằm chọn lọc các tổ chức đáp ứng đủ điều kiện để giúp ngân hàng trong nước.
– Nâng cao năng lực quản trị, điều hành, quản lý rủi ro
– Ứng dụng công nghệ hiện đại
– Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng…
Ở các lĩnh vực khác, cổ đông chiến lược là một từ mang tính kinh tế  hơn là quy định pháp lý.
Để cổ đông chiến lược có thể mang lại lợi ích như mong muốn, doanh nghiệp cần xác định rõ chiến lược kinh doanh, các điểm yếu, điểm mạnh của mình và lựa chọn đối tác phù hợp.
Một cổ đông chiến lược hữu ích có thể trợ giúp về nguồn tài chính, giúp ổn định nguồn nguyên vật liệuhỗ trợ mạng lưới phân phối, khách hàng… vì mục đích lợi nhuận của cả hai phía công ty và cổ đông.

Rủi ro và thách thức là gì?

Tuy vậy, không phải cổ đông chiến lược luôn luôn đem lại triển vọng tươi sáng cho doanh nghiệp.
Một số rủi ro và thách thức mà doanh nghiệp có thể gặp phải khi xuất hiện cổ đông chiến lược:
– Việc ra quyết định sẽ không còn linh hoạt như trước đây.
– Mất quyền kiểm soát doanh nghiệp, dự án, tạo ra rủi ro tài chính, rủi ro kinh doanh.
– Trách nhiệm và quyền hạn bị nhạt nhòa.
– Mất nhiều thời gian và công sức để điều phối, tham vấn các bên liên quan.
– Nhiều thách thức hơn trong công tác truyền thông nội bộ doanh nghiệp.

Nguồn tin: traiphieu.com
Đăng bởi Để lại phản hồi

Đường MACD


MACD (Sự Đồng quy – Phân kỳ của Đường Trung bình Di động)

Chỉ báo Đồng quy – Phân kỳ của Đường Trung bình Di động (MACD) được sử dụng
để quyết định các xu hướng trong xung lượng.


  • Tính toán
    Nó được tính bằng cách trừ đường trung bình di động lũy thừa (EMA) dài
    hơn cho một đường trung bình di động lũy thừa ngắn hơn. Giá trị phổ biến
    nhất dùng để tính MACD là đường trung bình di động lũy thừa 12 ngày và
    26 ngày.
    Dựa vào sự chênh lệch này, một đường trung bình di động
    của 9 giai đoạn sẽ được tính, và được đặt tên là “đường dấu hiệu”.
    MACD = [đường
    trung bình di động 12-ngày – đường trung bình di động 26-ngày ] > Chỉ
    báo Gia quyền Lũy thừa
    Đường dấu hiệu = Đường trung bình di động (MACD)
    > Chỉ báo Gia quyền Trung bình
  • Diễn giải
    Do sự bôi trơn lũy thừa, chỉ báo MACD sẽ dò các thay đổi về giá gần nhất
    nhanh hơn là đường dấu hiệu. Do đó,
    Khi MACD xuyên qua ĐƯỜNG DẤU
    HIỆU: đường trung bình di động nhanh hơn (12-ngày) sẽ cao hơn tốc độ
    thay đổi đối với đường trung bình di động chậm hơn (26-ngày). Đây là tín
    hiệu giá tăng đặc trưng, và cho thấy khả năng giá có thể có xung lượng
    đi lên.
    Ngược lại, khi chỉ báo MACD nằm dưới ĐƯỜNG DẤU
    HIỆU: đó là tín hiệu giá giảm, có thể dự báo một sự đảo chiều sắp xảy
    ra.

  • Ví dụ về một MACD
    Bạn có thể thấy từ biểu đồ bên dưới ví dụ
    về một MACD. Chỉ báo MACD được thể hiện bới màu xanh lá và Đường Dấu
    hiệu màu Xanh dương.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Nhập môn phân tích kỹ thuật


Phân tích kỹ thuật hay còn gọi là (charting – nghiên cứu biểu đồ) là việc nghiên cứu lịch sử giao dịch, về giá và khối lượng giao dịch theo thời gian của các loại chứng khoán.

Mục đích của phân tích kỹ thuật không phải là để xác định giá trị nội tại của chứng khoán mà nhằm dự đoán giá tương lai. Một ví dụ minh họa dễ hiểu là, giả sử thị trường chứng khoán là một cái siêu thị, trong siêu thị đó, các nhà phân tích cơ bản sẽ đi vào từng gian hàng, nghiên cứu từng sản phẩm sau đó sẽ quyết định có mua hay không. Ngược lại, một nhà phân tích kỹ thuật, sẽ ngồi ngoài sảnh và quan sát người ta vào ra các gian hàng. Bất kể giá trị nội tại của các sản phẩm trong các cửa hàng như thế nào đi chăng nữa, quyết định của nhà đầu tư sẽ luôn dựa trên đặc điểm hoặc hành vi của những người đi vào mỗi gian hàng.

Các nhà phân tích kỹ thuật tinh rằng diễn biến trước đây của cổ phiếu nói riêng và toàn thị trường nói chung là một chỉ dẫn để đánh giá diễn biến tương lai. Niềm tin này dựa trên quan điểm cho rằng, trên thị trường chứng khoán, lịch sử hay được lặp lại. Họ tin rằng các nhà đầu tư, phần đông sẽ lặp lại hành vi của các nhà đầu tư đi trước. Có những câu nói kiểu như: “Ai chẳng muốn mua cổ phiếu của Microsoft”, “Nếu cổ phiếu này lên $50 một lần nữa, tôi sẽ mua nó”, “Công nghệ của hãng này mang tính cách mạng, do đó cổ phiếu của nó nhất định sẽ tăng vọt”, đó là những ví dụ về sự lặp lại trong thái độ của nhà đầu tư. Đối với các nhà phân tích kỹ thuật, đặc tính rất con người của thị trường đôi khi thật là vô lý, nhưng nó vẫn luôn hiện hữu. Thái độ ứng xử của các nhà đầu tư thường lặp nhau nên hành vi của họ cũng thường lặp nhau. Do đó, các nhà phân tích tin rằng, giá chứng khoán sẽ diễn biến theo một biểu đồ với các đặc trưng có thể dự đoán được, và đó là cơ sở đển nắm bắt giá tương lai của chứng khoán.

Vì không quan tâm đến giá trị nội tại nên, các phân tích kỹ thuật cũng không quan tâm đến lý do tại sao giá lại thay đổi (có thể do thu nhập kém, môi trường kinh doanh không lành mạnh, quản lý tồi, hay các nguyên nhân căn bản khác) mà chỉ quan tâm đến việc liệu giá sẽ đi theo khuynh hướng này hay khuynh hướng khác. Các nhà phân tích kỹ thuật luôn cho rằng mình có thể tạo ra lợi nhuận nhờ việc biết “theo xu thế”. Hay nói cách khác, nếu một cổ phiếu cụ thể nào đó tăng giá đều đều (khuynh hướng lên) thì nhà phân tích kỹ thuật chắc chắn sẽ tìm cách mua nó.

Đăng bởi Để lại phản hồi

HỖ TRỢ VÀ KHÁNG CỰ

Hỗ trợ và Đối kháng là những đường minh họa sự giằng co giữa người mua (bull) và người bán (bear).
Các đường hỗ trợ báo hiệu giá mà phần lớn nhà đầu tư tin rằng sẽ lên cao hơn. Khi giá giảm đến đường hỗ trợ và giá rẻ hơn, người mua sẽ muốn mua hơn và người bán ít muốn bán hơn.
Các đường đối kháng báo hiệu giá mà phần lớn nhà đầu tư tin rằng sẽ xuống thấp hơn. Khi giá di chuyển đến đường đối kháng và giá cao hơn, người bán sẽ muốn mua hơn và người mua ít muốn bán hơn.

Với điều kiện là giá của chứng khoán di chuyển giữa đường hỗ trợ và đối kháng, xu hướng có thể sẽ tiếp tục. Một sự đột phá ra khỏi đường hỗ trợ hoặc đối kháng có thể là dấu hiệu của:
Một xu hướng tăng tốc
Một xu hướng đảo chiều

Khi đường đối kháng bị phá vỡ, vai trò của nó bị đảo ngược và nó trở thành đường hỗ trợ. Tương tự, khi một đường hỗ trợ bị phá vỡ, đường này sẽ thành đường đối kháng.

Bạn sẽ thấy trong biểu đồ bên dưới thể hiện sự tăng tốc trong xu hướng của cặp tiền tệ AUD/JPY khi một đường đối kháng trở thành đường hỗ trợ.

Phân tích đường hỗ trợ và đối kháng được các nhà kinh doanh kỹ thuật dùng để ra các quyết định kinh doanh và xác định thời điểm một xu hướng tăng tốc hay đảo chiều. Lưu ý các đường quan trọng này có thể ảnh hưởng đến cách mà bạn kinh doanh và giúp bạn cải thiện đáng kể hoạt động kinh doanh của mình.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chỉ số P/E


žP/E = –Thị giá hiện tại của CP/ – Thu nhập của CP (EPS)

ž

Nhận xét:

›PE cho biết NĐT sẵn sàng trả giá cho mỗi CP cao hơn mức thu nhập hiện tại bao nhiêu lần

›PE là chỉ số cho biết giá CP đang ở mức được đánh giá cao hay thấp trên thị trường.

›Nếu chỉ số PE càng cao thì nó cho thấy CP được thị trường đánh giá cao và ngược lại.

›So sánh chỉ số PE giữa các Cty cùng ngành để đánh giá giá trị của CP mình quan tâm.

›Theo quan điểm “bảo thủ”, P/E dưới 10 thì nên mua. Nếu đang nắm giữ CP có mức P/E từ 10 – 12 lần thì không nên bán và có thể mua tiếp. P/E 12 – 18 có thể mua được khi thị trường đang trong giai đoạn ổn định theo hướng tốt. P/E từ 18 trở lên xem xét bán CP. Tuy nhiên, với NĐT theo trường phái “tăng trưởng”, P/E có thể được chấp nhận cao hơn nếu tốc độ tăng LN (E) cao

›Đây là chỉ số mà các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư lớn như HSBC, ML đã lợi dụng tâm lý yếu của NĐT VN khi tung ra các báo cáo xoay quanh chỉ số này nhằm đánh đổ thị trường cho các NĐT của mình mua vào.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chỉ số EPS

Chỉ số EPS

žEPS – Thu nhập trên một CP.

EPS = –(Tổng lợi nhuận sau thuế – tổng số cổ tức của CP ưu đãi)/ Tổng số CP đang lưu hành bình quân trong kỳ

Nhận xét:

›EPS là chỉ số cho biết khả năng sinh lợi của Cty trên mỗi cổ phần của cổ đông đóng góp là bao nhiêu.

›Nếu chỉ số EPS càng cao thì nó càng cho thấy khả năng sinh lời của Cty càng lớn và ngược lại.

›So sánh chỉ số EPS qua các thời kỳ sẽ giúp chúng ta biết được tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp đang phân tích.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chỉ số P/B

P/B: žChỉ số Giá/Giá trị sổ sách (Price-to-Book ratio, P/B Ratio)

žP/B(ratio) = Giá hiện tại của CP (stock price)/( Tổng giá trị tài sản – giá trị tài sản vô hình và nợ)

Nhận xét:

›giả sử rằng Cty có giá trị tài sản ghi nhận trên bảng cân đối kế toán là 100 tỷ, tổng nợ là 75 tỷ, như vậy giá trị ghi sổ của Cty là 25 tỷ. Nếu hiện tại Cty có 10 triệu CP đang lưu hành, mỗi CP sẽ đại diện cho 2.5k giá trị ghi sổ của Cty. Nếu mỗi CP này có giá thị trường là 50k, như vậy tỉ lệ P/B là 2=5/2.5.

›P/B là công cụ giúp có thể tìm kiếm được các CP có giá thấp mà phần lớn thị trường bỏ qua. Nếu một Cty đang bán cổ phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ của nó (tức là có tỉ lệ P/B nhỏ hơn 1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của Cty đã bị thổi phồng quá mức hoặc là thu nhập trên tài sản của Cty là quá thấp.

›Chỉ số P/B chỉ thực sự có ích khi xem xét các Cty có mức độ tập trung vốn cao hoặc các Cty tài chính bởi giá trị tài sản của các Cty này tương đối lớn. Vì công tác kế toán phải tuân thủ theo những tiêu chuẩn ngặt nghèo, giá trị ghi sổ của TS hoàn toàn không tính tới các TSVH như thương hiệu, nhãn hiệu, uy tín, bằng sáng chế và các tài sản trí tuệ khác do Cty tạo ra. Giá trị ghi sổ không có ý nghĩa nhiều lắm với các Cty dịch vụ vì họ giá trị tài sản hữu hình của họ không lớn

›Ví dụ: Microsoft là Cty mà phần lớn tài sản của Cty này là tài sản trí tuệ, các bản quyền phần mềm chứ không phải là các tài sản hữu hình khác. Cổ phần của Cty này chẳng mấy khi được bán với giá thấp hơn 10 lần giá trị ghi sổ của chúng.