Đăng bởi Để lại phản hồi

Những yếu tố không thực trong "giá trị thực" của cổ phiếu

Các chuyên gia chứng khoán lại bàn về “giá trị thực” của cổ phiếu trong khi bản thân họ cũng không thể nói chính xác và thống nhất với nhau “giá trị thực” được tính như thế nào. Vậy “giá trị thực” là gì?
Vấn đề “giá trị thực” và “giá trị ảo” của cổ phiếu (CP) đã được các chuyên gia phân tích đề cập khá nhiều và đồng thời cũng là câu hỏi mà tất cả công chúng đầu tư đều quan tâm. Tuy nhiên, phần lớn “giá trị thực” đều dựa trên những thông tin thiếu chính xác và khó có thể coi là “thực”. Có nhiều nhà đầu tư nói về “giá trị thực” của CP mà không biết rõ lĩnh vực hoạt động, tình hình kinh doanh và tài chính của công ty phát hành CP ra sao, triển vọng tăng trưởng thế nào… Các chuyên gia chứng khoán lại bàn về “giá trị thực” trong khi bản thân họ cũng không thể nói chính xác và thống nhất với nhau “giá trị thực” được tính như thế nào. Vậy “giá trị thực” là gì?

Với phương pháp DCF (định giá CP thông qua chiết khấu luồng thu nhập), sử dụng Po (giá trị tài sản ròng vào thời điểm niêm yết) và E (lợi nhuận ước tính của doanh nghiệp trong 5 năm) để tính giá trị thực. Tuy nhiên, liệu kết quả có “thực” không khi:

– Giá trị tài sản ròng hoàn toàn dựa trên giá trị sổ sách, không có liên hệ nhiều với giá trị thị trường của những tài sản này tại thời điểm niêm yết và chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi các chính sách kế toán được áp dụng trước đó.
– Lợi nhuận trong tương lai chỉ là ước tính dựa trên giá định của từng cá nhân.
– Giá trị sinh lợi của doanh nghiệp từ sau năm thứ 5 hoàn toàn bị “quên” và không được tính vào giá trị “thực”, trong khi phần giá trị này là không nhỏ trong toàn bộ giá trị nội tại của một doanh nghiệp…

Với phương pháp sử dụng hệ số P/E cũng nảy sinh một số vấn đề:

– Liệu E (lợi nhuận trên mỗi CP của doanh nghiệp) có phản ánh đúng lợi nhuận “thực” không hay còn chịu ảnh hưởng của các chính sách kế toán được áp dụng?
– Nên sử dụng E của năm tài chính trước, của 12 tháng kinh doanh gần nhất hay của năm tài chính hiện thời?
– Liệu hệ số so sánh có phản ánh đúng giá trị “thực” của toàn ngành hay toàn thị trường mà doanh nghiệp hoạt động?
– Liệu hệ số P/E có cần điều chỉnh so với thực tế của doanh nghiệp hay không?

Một điểm cần lưu ý nữa là việc sử dụng thuật ngữ “giá trị thực” của CP là chưa chuẩn xác bởi cụm từ “Intrinsic value” mà các nhà chuyên môn sử dụng trong trường hợp này có nghĩa đúng hơn là “giá trị nội tại”.

Thuật ngữ “giá trị thực” có thể sử dụng lẫn lộn với “giá trị nội tại” khi nói đến các công cụ tài chính đơn giản và xác định như trái phiếu, tín phiếu… nhưng lại không được phép lẫn lộn khi đề cập đến công cụ tài chính là CP.

“Giá trị nội tại” của một công ty được định nghĩa là giá trị chiết khấu của luồng tiền mà công ty đó có thể đem lại trong tương lai. Tuy nhiên để tính giá trị này hoàn toàn không đơn giản. Chỉ có thể ước tính giá trị này trên cơ sở những thông tin và giả định hiện có, bên cạnh đó phải điều chỉnh ước tính này ngay khi những thông tin và giả định này thay đổi.

Hai người với cùng có những thông tin như nhau khó tránh khỏi việc đưa ra những giá trị ước tính khác nhau. Vì vậy việc khẳng định giá chứng khoán đã “vượt quá giá trị thực” và kỳ vọng các nhà đầu tư khác cũng thừa nhận kết luận này là một ý tưởng hết sức chủ quan.

Đã đến lúc cần thay đổi cách sử dụng thuật ngữ “giá trị thực” và thay vào đó là một thuật ngữ mang tính chuyên môn hơn – “giá trị nội tại” có lẽ là một thuật ngữ thích hợp. Bản thân thuật ngữ này sẽ nhắc nhở cho tất cả các nhà đầu tư, các nhà chuyên môn và các nhà quản lý rằng: nhận định về giá trị một doanh nghiệp luôn mang tính chủ quan, nhận định này sẽ được đánh giá và thưởng phạt xứng đáng thông qua một thị trường hoạt động với sự can thiệp tối thiểu của các nhà quản lý, nơi mà người mua và người bán sẽ là những người quyết định giá của hàng hóa họ đang mua bán.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Một số khái niệm tài chính

Tài sản lưu động và công nợ phải trả
Đây là những chỉ số quan trọng để đánh giá tình hình của một công ty trong ngắn hạn. Tài sản lưu động là tiền mặt, những tài sản có tính chất tương tự như tiền mặt, các khoản phải thu (khoản tiền mà khách hàng nợ công ty) và cả hàng tồn kho. Nhìn chung, đó là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền mặt. Công nợ phải trả là bất cứ những gì công ty nợ trong ngắn hạn.

Vấn đề cần quan tâm là khi 2 chỉ số này biến động quá lớn trong từng giai đoạn cụ thể. Nếu lượng tài sản lưu động tăng lên nhanh chóng, điều đó có nghĩa là công ty đang tăng lượng tiền mặt (một dấu hiệu tốt) hoặc cũng có thể là công ty đang gặp rắc rối với một số khoản nợ khó đòi (điều này không tốt chút nào). Còn việc công nợ phải trả tăng quá nhanh rất ít khi là một biểu hiện tốt ngoại trừ một số ít trường hợp khi công ty đang thực hiện một mục tiêu ngắn hạn nào đó.

Tóm lại khi 2 chỉ số này biến động quá lớn, bạn cần phải xem xét lại tình trạng của công ty. Kiểm tra lại các nghiên cứu phân tích, các bản báo cáo tài chính… Thậm chí trong trường hợp này ban lãnh đạo cần phải giải thích cụ thể những thay đổi về điều kiện tài chính của công ty.

Rủi ro và lợi nhuận

Hẳn bạn muốn làm giàu trên thị trường chứng khoán? Tuy nhiên, trước khi quyết định đầu tư vào một danh mục chứng khoán, điều đầu tiên bạn phải chấp nhận là không bao giờ có sự đầu tư nào đem lại lợi nhuận mà không có rủi ro.

Theo Webster, rủi ro là khả năng bị thua lỗ hoặc tổn thất. Trong đầu tư chứng khoán, rủi ro chính là sự thay đổi liên tục của giá cả chứng khoán. Nói cách khác khi đầu tư vào thị trường chứng khoán, bạn không thể chắc chắn về lợi nhuận thu được.

Dù bạn quyết định đầu tư hay gửi tiết kiệm, bạn luôn phải đối mặt với những rủi ro. Bạn có thể cất tiền trong nhà nhưng bạn vẫn phải chấp nhận rủi ro mất trắng nếu nhà bạn cháy. Bạn có thể gửi tiền vào ngân hàng nhưng sức mua của đồng dôla có thể giảm do ảnh hưởng của lạm phát khiến giá trị thực tế của đồng đôla bạn nhận được còn thấp hơn cả khi gửi tiền. Đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu hoặc quỹ tương hỗ cũng có những rủi ro ở nhiều mức độ khác nhau.

Thực tế thứ hai bạn phải đối mặt là để có được lợi nhuận càng lớn từ danh mục đầu tư, rủi ro bạn phải chấp nhận càng lớn. Gửi tiền tiết kiệm tuy ít có rủi ro nhưng ngược lại tiền lãi bạn nhận được cũng không đáng kể.

Rủi ro khi đầu tư chứng khoán là không thể tránh khỏi nhưng chúng ta có thể kiểm soát được. Kiểm soát rủi ro tức là việc bạn có thể tăng tối đa lợi nhuận trong khi đó giảm thiểu rủi ro. Làm được như vậy có nghĩa là bạn đã có một lợi nhuận hợp lý với một mức rủi ro chấp nhận được.

Vậy như thế nào là rủi ro chấp nhận được? Mỗi nhà đầu tư có một quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, một quan niệm chung được nhiều nhà đầu tư thống nhất đó là khi bạn không phải tỉnh giấc lúc nửa đêm và lo lắng về quyết định đầu tư của mình. Nếu việc đầu tư làm bạn quá lo lắng tức là bạn cần phải xem xét lại quyết định của mình, xem xét lại mức độ rủi ro của các chứng khoán trong danh mục. Trái lại, khi bạn thấy mình thanh thản, điều đó có nghĩa là mức độ rủi ro để bạn có thể đạt được những mục tiêu tài chính của mình là chấp nhận được.

Cổ tức và Tỷ suất cổ tức

Cổ tức là khoản tiền mà các công ty trích ra từ lợi nhuận để trả cho cổ đông. Người ta thường tính cổ tức trên một cổ phiếu. Tuy nhiên khi so sánh cổ tức giữa các công ty, bạn lại phải quan tâm tới tỷ suất cổ tức. Đây là một tỷ lệ phần trăm giữa cổ tức và thị giá cổ phiếu. Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ cổ tức bạn sẽ nhận được so với số tiền bạn phải trả để mua cổ phiếu. Ví dụ, nếu bạn nhận được 2 đôla Mỹ hàng năm từ mỗi cổ phiếu và thị giá cổ phiếu là 50 đôla thì tỷ suất cổ tức sẽ là 4%.

Không phải bất cứ cổ phần nào cũng đem lại cho bạn cổ tức. Nếu một công ty đang tăng trưởng nhanh có thể làm lợi cho các cổ đông bằng cách tái đầu tư, trong trường hợp đó, nó sẽ không trả cổ tức. Ví dụ công ty Microsoft không trả cổ tức nhưng các cổ đông của công ty không hề phàn nàn gì về điều này. Một cổ phiếu không được trả cổ tức không hẳn là cổ phiếu của công ty đang làm ăn thua lỗ.Tuy nhiên, rất nhiều nhà đầu tư muốn được trả cổ tức, đặc biệt là các nhà đầu tư ở tuổi sắp nghỉ hưu, vì cả lý do thu nhập và an toàn.

Tuy nhiên bạn cũng không nên chỉ tìm mua những cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao bởi vì bạn có thể sẽ nhanh chóng gặp rắc rối. Giả sử cổ phiếu nói trên có cổ tức 2 đôla và tỷ suất cổ tức 4%, tức là cao hơn hẳn tỷ suất trung bình của thị trường (2%). Điều này không có nghĩa là mua cổ phiếu đó là tốt nhất. Hãy xem xét điều gì sẽ xảy ra nếu công ty đó không thực hiện được kế hoạch thu nhập và giá cổ phiếu sụt trong vòng 1 đêm từ 50 xuống còn 40 đôla một cổ phiếu. Điều đó có nghĩa là giá cổ phiếu giảm 20% và đẩy tỷ suất cổ tức lên tới 5% (2đôla/40 đôla). Liệu bạn có muốn đầu tư vào một cổ phiếu như vậy chỉ vì tỷ suất cổ tức cao hơn? Có lẽ là không. Ngày cả khi tìm mua những cổ phiếu cho nhiều cổ tức, bạn cũng phải chắc chắn là công ty đó không có vấn đề gì về tài chính.

Khi bạn tìm mua những cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao, bạn cần xem xét tỷ lệ trả cổ tức của công ty. Chỉ số này thể hiện tỷ lệ phần trăm lợi nhuận được trích ra để trả cho cổ đông dưới hình thức cổ tức. Nếu tỷ lệ này vượt quá 75% có nghĩa là công ty không tái đầu tư lợi nhuận một cách hợp lý. Một tỷ lệ trả cổ tức cao thường hàm ý là thu nhập của công ty được sử dụng phần lớn để trả cho cổ đông và có nghĩa là công ty đang cố gắng thu hút các nhà đầu tư mua cổ phiếu của mình.

Kỹ thuật phân tích cơ bản

Phân tích cơ bản là một trong những phương pháp phân tích chứng khoán được sử dụng rất phổ biến. Các nhà đầu tư theo cách tiếp cận này thường quan tâm nhiều tới các thông số cơ bản một của công ty như tốc độ tăng trưởng doanh số và lợi nhuận, từ đó rút ra những kết luận về giá trị thực tế của cổ phiếu. Sau đó, bằng cách so sánh thị giá cổ phiếu với giá trị thực tế đó nhà đầu tư quyết định có nên mua hay không.

Một trong những nhà đầu tư thành đạt nhờ sử dụng phân tích cơ bản là Peter Lynch, nhà quản lý huyền thoại của quỹ đầu tư tương hỗ Fidelity Magellan. Dưới sự điều hành của Peter, quỹ này được biết đến như một quỹ đầu tư phát đạt nhất từ trước tới nay. Một nhà phân tích cơ bản nổi tiếng nữa phải kể đến là Warren Buffet, nhà đầu tư rất thành đạt nhờ công ty dệt Bershire Hathaway. Buffet sử dụng Bershire Hathaway làm phương tiện để đầu tư vào các cổ phiếu khác và đã đạt được những thành công rực rỡ. Hiện nay một cổ phiếu của Bershire Hathaway được giao dịch với giá hơn 60.000 đôla Mỹ.

Hầu hết các nhà đầu tư cá nhân đều sử dụng phương pháp phân tích cơ bản theo cách này hay cách khác để ra quyết định đầu tư. Nếu bạn có ý định tìm kiếm cổ phiếu “mua và giữ” để bạn có thể mua và giữ nhiều năm mà không phải lo lắng về những biến động giá, bạn nên sử dụng phương pháp phân tích cơ bản.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Cổ phiếu – Kiến thức cơ bản

Hãy bắt đầu tìm hiểu những kiến thức cơ bản nhất về cổ phiếu – một loại chứng khoán vốn được giao dịch mua bán phổ biến trên các thị trường chứng khoán hiện đại.
Cổ phiếu là gì ?

Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu.
Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát hành 02 dạng cổ phiếu: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Như vậy, sự khác biệt của 02 lọai cổ phiếu cơ bản này là gì?
Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty như: Được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh; Được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm sóat công ty; Và phải chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của mình.
Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phần như cổ phiếu thông thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: lợi tức cố định; không có quyền bầu cử, ứng cử..v.v.
Công ty cổ phần là gì?
Đó là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế. Các nhà đầu tư trở thành những cổ đông chính thức của công ty khi thực hiện mua các cổ phần do công ty phát hành. Cổ đông được quyền tham gia quản lý, kiểm soát, điều hành công ty thông qua việc bầu cử và ứng cử vào các vị trí trong Ban Quản Lý, Ban Kiểm Soát và Ban Điều Hành. Ngoài ra, cổ đông còn được quyền hưởng các khoản lợi nhuận do công ty tạo ra cũng như chịu lỗ tương ứng với mức độ góp vốn.
Ưu điểm của loại hình công ty cổ phần là Nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn tương ứng với tỷ lệ góp vốn trong công ty; Quy mô hoạt động lớn và khả năng mở rộng kinh doanh dễ dàng từ việc huy động vốn cổ phần; Nhà đầu tư có khả năng điều chuyển vốn đầu tư từ nơi này sang nơi khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác dễ dàng thông qua hình thức chuyển nhượng, mua bán cổ phần; Công tác quản lý hiệu quả cao do tính độc lập giữa quản lý và sở hữu.
Bên cạnh những ưu điểm, loại hình công ty này cũng có những nhược điểm cơ bản, cụ thể là: Mức thuế tương đối cao vì ngoài thuế, công ty phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, các cổ đông còn phải chịu thuế thu nhập bổ sung từ nguồn cổ tức và lãi cổ phần theo qui định của nhà nước; Chi phí thành lập công ty khá tốn kém; Khả năng bảo mật kinh doanh và tài chánh bị hạn chế do phải công khai và báo cáo với các cổ đông của công ty; Khả năng thay đổi phạm vi kinh doanh kém linh hoạt do phải tuân thủ theo những qui định trong Bản Điều Lệ của công ty. Tuy nhiên, với môi trường kinh doanh hiện nay trên thế giới cũng như tại Việt Nam, những nhược điểm trên hoàn toàn có khả năng khắc phục, hạn chế tối đa và đồng thời phát huy được những ưu điểm của loại hình này.
Tại sao công ty lại phát hành cổ phiếu ?

Công ty huy động vốn khi thành lập hoặc để mở rộng kinh doanh bằng hình thức phát hành cổ phiếu thì nguồn vốn huy động đó không cấu thành một khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sử dụng các phương thức khác như phát hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các tổ chức tín dụng …thì hoàn toàn ngược lại. Tuy nhiên, mỗi phương thức huy động đều có những ưu nhược điểm riêng và nhà quản lý công ty phải cân nhắc, lựa chọn tùy từng thời điểm và dựa trên những đặc thù cũng như chiến lược kinh doanh của công ty để quyết định phương thức áp dụng thích hợp.
Tại sao các nhà đầu tư chấp nhận trả một khoản tiền nhất định để nhận lại một mảnh giấy nhỏ được gọi là giấy chứng nhận cổ phần? và họ trông đợi gì khi mua cổ phiếu của một công ty phát hành hoặc từ những nhà đầu tư khác ?
Theo định nghĩa cơ bản, giấy chứng nhận cổ phần là một dạng chứng thư có giá được xác định thông qua việc chuyển dịch, mua bán chúng trên thị trường chứng khoán giữa các chủ thể đầu tư và được pháp luật bảo vệ. Mặt khác, người mua cổ phiếu nghĩ rằng đồng vốn họ đầu tư được các nhà quản lý công ty sử dụng có hiệu quả, tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc đánh giá hoạt động cũng như tiềm năng phát triển, sinh lợi của công ty dự định đầu tư là cao, và đương nhiên họ sẽ được hưởng một phần từ những thành quả đó thông qua việc thanh toán cổ tức cho các cổ đông, đồng thời giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia tăng trên cơ sở thực tại và triển vọng phát triển của công ty mình đã chọn. Thông thường, khả năng sinh lợi, thu hồi vốn đầu tư cổ phiếu tỷ lệ thuận với giá cả giao dịch cổ phiếu trên thị trường.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chuyển nhượng chứng khoán

Chuyển nhượng CK phải được quy định và phải tuân thủ thực hiện các quy tắc chính sau đây:
1/ CK đủ điều kiện niêm yết tại TTGDCK là những CK do tổ chức phát hành CK (TCPHCK) đáp ứng đầy đủ các điều kiện phát hành CK ra công chúng hoặc đăng ký lại CK của những doanh nghiệp đã cổ phần hoá, được UBCKNN chấp nhận niêm yết; trái phiếu Chính phủ có thời hạn từ 1 năm trở lên, bảo đảm một số điều kiện kỹ thuật như thống nhất thời điểm phát hành, thời gian đáo hạn và lãi suất.

2/ CK đang được niêm yết tại TTGDCK – kể cả CP và trái phiếu thì việc mua bán CK niêm yết được thực hiện tập trung tại TTGDCK, thông qua các công ty CK (Cty CK) thành viên.

3/ Chuyển nhượng CK phải được thực hiện theo quy trình, thủ tục mua bán CK:
a/ Mở tài khoản và chuyển tiền vào tài khoản;
b/ Ra lệnh mua hoặc lệnh bán CK để Cty CK chuyển vào sàn giao dịch của TTGDCK;
c/ Khớp lệnh mua hoặc lệnh bán và công bố kết quả của TTGDCK;
d/ Thanh toán CK và tiền, kể cả lệ phí giao dịch.

4/ Những CK không được niêm yết trên TTGDCK thì:
a/ đối với trái phiếu, công trái, có thể đem đến chiết khấu trực tiếp tại các tổ chức tín dụng, các Cty CK được phép chiết khấu;
b/ đối với CP của công ty cổ phần thì việc chuyển nhượng được thực hiện theo điều lệ công ty, nếu điều lệ công ty cho phép CP được chuyển nhượng thì có thể bán CP đó theo quy định.

5/ Các chủ thể khác tham gia thị trường, nhất là Cty CK và TTGDCK có trách nhiệm thực hiện đúng đắn các quy tắc ràng buộc trên.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Phát hành và niêm yết chứng khoán

PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN
1. Khái niệm về phát hành chứng khoán
Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới gọi là phát hành chứng khoán. Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán của một tổ chức lần đầu tiên ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng. Nếu việc phát hành đó là việc phát hành bổ sung bởi tổ chức đã có chứng khoán cùng loại lưu thông trên thị trường thì gọi là đợt phát hành chứng khoán bổ sung. Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng đều được phát hành chứng khoán mà chỉ những chủ thể phát hành mới có được quyền này.
2. Phương thức phát hành chứng khoán

Có 2 phương thức phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Đó là phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng.
2.1. Phát hành riêng lẻ (Private Placement)
Phát hành riêng lẻ là việc công ty phát hành chào bán chứng khoán của mình trong phạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài) như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí… với những điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng. Các ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻ với tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành. Đa số các đợt phát hành trái phiếu đều thực hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ, việc phát hành cổ phiếu thường – cổ phiếu phổ thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này.
2.2. Phát hành chứng khoán ra công chúng
Phát hành chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó chứng khoán có thể chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định.
2.3. Ý nghĩa cơ bản của việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng
Việc phân biệt phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng là để xác định những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để xây dựng một thị trường chứng khoán an toàn, công khai và có hiệu quả.
Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ thông thường chịu sự điều chỉnh của Luật Công ty. Chứng khoán phát hành dưới hình thức này không phải là đối tượng được niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán sơ cấp.
3. Bảo lãnh phát hành chứng khoán
3.1. Khái niệm
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Trên thế giới, các ngân hàng đầu tư thường là những tổ chức đứng ra làm bảo lãnh phát hành.
Tổ chức bảo lãnh là người chịu trách nhiệm mua hoặc chào bán chứng khoán của một tổ chức phát hành nhằm thực hiện việc phân phối chứng khoán để hưởng hoa hồng.
3.2. Các phương thức bảo lãnh phát hành
Việc bảo lãnh phát hành thường được thực hiện theo một trong các phương thức sau:
· Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng khoán hay không. Trong hình thức bảo lãnh tổ hợp theo “cam kết chắc chắn”, một nhóm các tổ chức bảo lãnh hình thành một tổ hợp để mua chứng khoán của tổ chức phát hành với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng (POP) và bán lại các chứng khoán đó ra công chúng theo giá POP. Chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của các tổ chức bảo lãnh và giá chào bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu.
· Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: đây là phương thức thường được áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu thường ở các nước phát triển. Trong trường hợp đó, công ty cần phải bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, và như vậy, công ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra công chúng bên ngoài. Dĩ nhiên, sẽ có một số cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty. Do vậy, công ty cần có một tổ chức bảo lãnh dự phòng sẵn sàng mua những quyền mua không được thực hiện và chuyển thành những cổ phiếu để phân phối ra ngoài công chúng. Có thể nói, bảo lãnh theo phương thức dự phòng là việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua nốt số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra công chúng. Tại các nước đang phát triển, khi các tổ chức bảo lãnh còn non trẻ và chưa có tiềm lực lớn thì phương thức bảo lãnh phát hành dự phòng lại là phương thức bảo lãnh thông dụng nhất.
· Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh tổ chức bảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành. Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành phần còn lại.
· Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: trong phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số lượng chứng khoán nhất định, nếu không phân phối được hết sẽ huỷ toàn bộ đợt phát hành.
· Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa: là phương thức trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh bán tất cả hoặc không. Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định (mức sàn). Vượt trên mức ấy, tổ chức bảo lãnh được tự do chào bán chứng khoán đến mức tối đa quy định (mức trần). Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ.

NIÊM YẾT CHỨNG KHOÁN

Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ tiêu chuẩn vào đăng ký và giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung (Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán). Hay nói cách khác, để có thể được niêm yết tại một Sở giao dịch chứng khoán nào đó thì công ty xin niêm yết phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn do Sở đó đặt ra. Mỗi Sở giao dịch chứng khoán có những điều kiện đặt ra khác nhau để đảm bảo cho sự hoạt động an toàn đồng thời phù hợp với mục đích hoạt động của Sở giao dịch đó

Đăng bởi Để lại phản hồi

Phân loại Thị trường chứng khoán

Xét về phương diện pháp lý thị trường chứng khoán được chia thành thị trường tập trung và thị trường phi tập trung
1, Thị trường chứng khoán tập trung: là thị trường hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được đăng biểu hay đặc biệt được biệt lệ.

Chứng khoán đăng biểu là chứng khoán đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép bảo đảm, phân phối và mua bán qua trung gian các kinh kỷ và công ty kinh kỷ, tứ là đã hội đủ tiêu chuẩn quy định.

Chứng khoán biệt lệ là chứng khoán do chính phủ hoặc các cơ quan công quyền phát hành và bảo đảm. Loại chứngkhoánnày được miễn giấp phép của cơ quan có thẩm quyền.

2, Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC): Là thị trường mua bán chứng khoán nằm ngoài sở giao dịch, không có địa điểm tập trung những nhà môi giới, những người kinh doanh chứng khoán như tại sở giao dịch. các giao dịch ở đây chủ yếu là dựa vào sự thoả thuận giữa người mua và người bán, không có sự kiểm soát từ Hội đồng Chứng khoán.

các loại chứng khoán mua bán ở đây thường những chứng khoán không được đăng biểu, ít người biết đến hoặc ít được mua bán.

Xét về quá trình luân chuyển chứng khoán thì thị trường chứng khoán được chia làm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.

1, Thị trường sơ cấp: Còn gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành, hàm ý chỉ nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán mới phát hành lần đầu. Thị trường sơ cấp là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành.

2, Thị trường thứ cấp: còn gọi là thị trường cấp hai hay thị trường lưu thông,là nói đến nơi diễn ra các giao dịch mua bán chứng khoán sau khi đã phát hành lần đầu. Nói cách khác thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán đã phát hành qua thị trường sơ cấp.

Nếu xét về phương thức giao dịch thì thị trường chứng khoán được chia là thị trường giao ngay và thị trường giao sau

1, Thị trường giao ngay: là thị trường mua bán chứng khoán theo giá tại thời điểm giao dịch nhưng việc thực hiện thanh toán và giao hàng có thể diễn ra sau dó một vài ngày theo thoả thuận.

2, Thị trường giao sau: Là thị trường mua bán chứng khoán theo một loại hợp đồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch , nhưng việc thanh toán và giao hàng xảy ra trong một thời hạn ở tương lai.

Ngoài ra, nếu căn cứ vào đặc điểm hàng hoá lưu hành thì thị trường chứng khoán còn chia thành thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ phái sinh.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Nguyên tắc hoạt động của Thị trường cổ phiếu New York ( NYSE )

Thị trường Cổ phiếu New York (NYSE), giống như tất cả các thị trường truyền thống khác, cung cấp phương tiện và địa điểm cho việc thực hiện các giao dịch cổ phiếu và đưa ra những qui định mà các giao dịch này phải tuân theo. Thị trường này không có trách nhiệm đặt giá cho một loại cổ phiếu nào đó. Giá của cổ phiếu phải là kết quả của cung-cầu và của quá trình giao dịch.

Giao dịch trên sàn của NYSE được thực hiện theo kiểu đấu giá: Trong mỗi phiên giao dịch, cổ phiếu sẽ được bán cho người trả giá cao nhất và được mua vào với giá chào bán thấp nhất.

Sàn giao dịch: Khu vực giao dịch của NYSE được biết tới như sàn giao dịch.

1) Ngày giao dịch bắt đầu từ 9h30 sáng đến 5h00 chiều khi chuông trên bục bắt đầu rung

2) NYSE cho các công ty môi giới thuê các cabin. Mỗi cabin sẽ là trụ sở cho những người môi giới tại sàn của một công ty nào đó. Khi một trong các văn phòng của công ty môi giới đó nhận được một lệnh, một người môi giới sàn sẽ đưa lệnh đó tới vị trí chuyên gia tương ứng để tiến hành giao dịch theo lệnh đó.

3) NYSE còn cho các công ty chuyên nghiệp – người môi giới cho các công ty môi giới – thuê các chỗ trống. Một chuyên gia sẽ lưu giữ một danh sách các lệnh chưa khớp. Khi lệnh mua và lệnh bán thay đổi theo các thay đổi của giá, chuyên gia này sẽ thực hiện các giao dịch.

Một công việc khác của các chuyên gia này là giữ thị trường ổn định cho một loại cổ phiếu nào đó. Nếu khoảng chênh lệch giữa lệnh đặt bán và đặt mua (khoảng cách giữa giá cao nhất mà một người mua đề nghị và giá thấp nhất mà một người bán yêu cầu) quá lớn, thì những chuyên gia này sẽ chuyển sang làm người kinh doanh mua bán cổ phần cho chính họ. Điều này thu hẹp được khoảng cách giữa lệnh đặt bán và lệnh đặt mua, đồng thời kích thích các giao dịch — một điều kiện tốt cho sự sống còn của Thị trường cũng như cho chính những chuyên gia này, bởi vì khi họ thực hiện được càng nhiều giao dịch thì hoa hồng môi giới họ nhận được càng cao.

4) Các chứng khoán và nhóm chứng khoán khác nhau được giao dịch tại vị trí giao dịch, gần vị trí của các chuyên gia. Cổ phiếu của mỗi công ty chỉ được giao dịch tại một vị trí trên sàn giao dịch của Thị trường, vì thế có thể theo dõi giao dịch của các cổ phiếu này một cách chính xác. Tuy nhiên, cổ phiếu của một số công ty khác nhau có thể được giao dịch tại cùng một vị trí. Số lượng công ty được chỉ định phụ thuộc vào khối lượng tổng hợp những hoạt động kinh doanh mà các công ty thực hiện.

5) Những người môi giới tại sàn có thể sử dụng chuyên gia mà họ chọn. Nhưng có rất nhiều các giao dịch thực sự xảy ra giữa hai người môi giới sàn xuất hiện tại vị trí giao dịch cùng một lúc

6) Màn hình hiển thị tại các vị trí cho thấy hoạt động trong ngày tại vị trí đó. Các màn hình này hiển thị những cổ phiếu đã được giao dịch trong ngày, giá bán cuối ngày và số lượng lệnh.

7) Sau mỗi giao dịch, một báo cáo viên sử dụng một máy quét kỹ thuật số để ghi lại các ký hiệu của từng cổ phiếu, giá và người môi giới đầu tiên. Máy quét này sẽ gửi các thông tin vào băng điện tử của Thị trường trong vòng vài phút. Nếu có gì đó nghi ngờ về giao dịch này, hệ thống thiết bị sẽ bắt đầu thực hiện một quy trình dò tìm lỗi, nhằm xác định xem liệu có xẩy ra vi phạm gì trong một số giao dịch đáng nghi vấn không.

8) Tiến hành xác nhận thực hiện xong giao dịch khi người môi giới sàn gửi những thông tin chi tiết về giao dịch đã thực hiện xong về văn phòng chi nhánh là nơi đã gửi lệnh đi.

Các hoạt động trên sàn thường xảy ra với tốc độ mạnh mẽ. Người ta mặc áo khoác có màu khác nhau để phân biệt công việc khác nhau của mỗi người: hentai

Áo khoác màu xanh nhạt, có cầu vai màu da cam là áo dành cho người đưa tin; áo khoác màu xanh lá cây là áo dành cho giám sát viên và người giao dịch trên sàn; áo khoác màu xanh hải quân là áo dành cho báo cáo viên của Thị trường. Người ta ước tính rằng trung bình một ngày điển hình một người môi giới cổ phiếu trên sàn giao dịch đi, hoặc chạy, khoảng 12 dặm xung quanh sàn giao dịch (N.B. Một dặm bằng khoảng 1.6 km)

Giao dịch được máy tính hoá: Các lệnh giao dịch ít hơn 31.000 cổ phiếu được khớp thông qua một hệ thống đã được máy tính hoá gọi là Super DOT (Designated Order Turnaround System-tức là Hệ thống thực hiện lệnh đã được chỉ định).

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chỉ số trung bình DOW JONES (DJIA)

Chỉ số này là gì?
Một trăm năm đã qua, DJIA vẫn tiếp tục là chỉ số lâu năm nhất trong thị trường Mỹ. DJIA bao gồm cổ phiếu của 30 công ty với sự lớn mạnh đi kèm. DJIA là một chỉ số biểu thị thị trường nổi tiếng nhất thế giới, một phần bởi vì nó đã đủ chín muồi để nhiều thế hệ các nhà đầu tư trở nên quen thuộc để định giá nó, và một phần bởi vì thị trường cổ phiếu Mỹ là thị trường có giá trị nhất trên thế giới.

Một thực tế

Chỉ một trong số 12 cổ phiếu DJIA nguyên gốc nằm trong chỉ số ngày nay.

Các công ty

Ở đây tập hợp các công ty lớn đại diện của công nghiệp Mỹ. Dow bao gồm các công ty đầy quyền lực như Proctor và Gamble, Home Depot, Coca cola, và Microsoft. Mặc dù nó gồm toàn bộ tất cả những công ty lớn, nó được thiết kế để đại diện cho hầu hết bất kỳ công ty Mỹ nào không nằm trong diện doanh nghiệp vãng lai hay một ích lợi nào. Chỉ những công ty công nghiệp đáng kể với một lịch sử tăng trưởng thành công và lãi suất lớn giữa những nhà đầu tư mới được xem để liệt vào sanh sách.

Dow được định giá không giống như những chỉ số khác, những công ty có ảnh hưởng nhất là những công ty có giá cổ phiếu cao nhất.

Chỉ số được đo như thế nào

Từ “trung bình” nằm trong tiêu đề bởi vì những cách tính chỉ số được tính nguyên gốc bằng cách cộng các giá cổ phiếu và chia cho số cổ phiếu. Hệ thống phương pháp chính tương tự như ngày nay, nhưng số chia được thay đổi để bảo tồn sự liên tục dựa trên nghiên cứu về lịch sử. DJIA là một chỉ số nghiêng về giá được tính hàng ngày dựa trên giá của mỗi công ty không một đánh giá nào về cỡ của mỗi công ty.

Sức mạnh

Đảm bảo các công ty cung cấp những trạng thái ổn định có ý nghĩa cho DJIA. Mỗi công ty có khả năng nhận thức đầu tư tập thể. Như một chỉ số lâu đời nhất và chỉ số được tác động thường xuyên nhất, khi mọi người hỏi thị trường được hoạt động như thế nào, họ thường sẽ hỏi về DJIA.

Hạn chế

Bởi vì nó bị hạn chế đối với những công ty thuộc Mỹ và 30 công ty lúc đó DJIA rất không đa dạng hoá. Vì theo định nghĩa, nó tập trung trên diện rộng đối với những công ty công nghiệp,. Bởi vì nó là chỉ số nghiêng về giá, nó không theo sát hoạt động của công ty ở một mức nào đó mà phản ánh những kết quả một nhà đầu tư có lý trí. Để đủ khả năng thực hiện chỉ số Dow, một nhà đầu tư sẽ phải mua một số cổ phiếu tương đương nhau của mỗi công ty, như một chiến lược sẽ buộc nhà đầu tư để đầu tư nhiều tiền trong các công ty với giá cổ phiếu cao hơn, không phải là một cách thực sự để đầu tư.

Đầu tư trong DJIA

DJIA có vài sản phẩm tài chính liên quan đến nó, bao gồm chỉ số các quỹ và chỉ số các quỹ ngoại thương như Dow Diamonds (Amex: DIA). Những công ty của DJIA không thể biến mất – chúng là một vài trong số những công ty lớn nhất của Mỹ. Một nhà đầu tư đang tìm kiếm sự ít mạo hiểm, bảo tồn vốn, và nhiều thu nhập từ các cổ phần sẽ là người mua lý tưởng của những sản phẩm được liên kết với Dow.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Giao dịch chứng khoán

Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán có thể diễn ra trên thị trường tập trung (Trung tâm giao dịch chứng khoán, Sở Giao dịch chứng khoán) và thị trường phi tập trung.


I. MUA CHỨNG KHOÁN CỦA TỔ CHỨC PHÁT HÀNH
Đối với loại chứng khoán này, bạn có thể thực hiện theo 2 hình thức:
– Mua trực tiếp tại tổ chức phát hành (công ty): nhà đầu tư phải đăng ký mua và nộp tiền trực tiếp tại tổ chức phát hành chứng khoán. Hình thức này rất bất cập, nhất là về mặt địa lý.
– Mua thông qua trung gian: tức là mua thông qua các nhà đại lý hoặc bảo lãnh phát hành, thông thường là các công ty chứng khoán và các Ngân hàng thương mại.
Nếu bạn mua chứng khoán của tổ chức phát hành chưa niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán thì việc chuyển nhượng hoặc bán lại chứng khoán đó cho người khác hiện nay gặp nhiều khó khăn vì không dễ tìm được người mua và bạn cũng phải trực tiếp đến tổ chức phát hành (hoặc uỷ quyền) để thực hiện chuyển nhượng cho người mua.
II. MUA BÁN CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT TRÊN TRUNG TÂM GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
Chứng khoán niêm yết là chứng khoán có đủ điều kiện và tiêu chuẩn được đăng ký để mua bán tại Trung tâm giao dịch chứng khoán. Khi mua bán chứng khoán niêm yết, phải tuân thủ theo một số nguyên tắc sau:
– Mọi giao dịch mua bán chứng khoán đều phải qua hệ thống tại Sở Giao dịch, Trung tâm Giao dịch chứng khoán theo phương thức khớp lệnh hoặc phương thức thoả thuận;
– Giao dịch chứng khoán thực hiện theo phương thức khớp lệnh trên nguyên tắc ưu tiên về giá và ưu tiên về thời gian;
– Giao dịch chứng khoán niêm yết lô lẻ được thực hiện trực tiếp giữa người đầu tư với công ty chứng khoán thành viên là thành viên của Trung tâm Giao dịch chứng khoán trên nguyên tắc thoả thuận về giá.

Quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán:
Toàn bộ quy trình này được tiến hành theo 5 bước:
– Bước 1: Nhà đầu tư đến mở tài khoản và đặt lệnh mua hay bán chứng khoán tại một công ty chứng khoán.
– Bước 2: Công ty chứng khoán chuyển lệnh đó cho đại diện của công ty tại Trung tâm giao dịch chứng khoán để nhập vào hệ thống giao dịch của Trung tâm.
– Bước 3: Trung tâm giao dịch chứng khoán thực hiện ghép lệnh và thông báo kết quả giao dịch cho công ty chứng khoán.
– Bước 4: Công ty chứng khoán thông báo kết quả giao dịch cho nhà đầu tư.
– Bước 5: Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là người bán) trên tài khoản của mình tại công ty chứng khoán sau 3 ngày làm việc kể từ ngày mua bán nếu quy định về thời gian thực hiện thanh toán bù trừ chứng khoán là T +3

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chỉ số Nasdaq 100

Nasdaq 100 là gì ?
Nasdaq 100 (AMEX: QQQ) theo 100 cổ phiếu lớn nhất được niêm yết bởi thị trường Nasdaq. Đây là một mạng máy tính cho phép những nhà môi giới mua bán với nhau. Nasdaq 100 bắt đầu mua bán vào tháng 3 năm 1999 dưới biểu tượng QQQ. Những nhà môi giới gọi những chỉ số cổ phiếu này là Qs hay Qubes (nó là Q được luỹ thừa ba lần).

Một thực tế

NASDAQ là những chữ cái đầu của nhóm từ Hiệp hội quốc gia về thông báo tự động hoá những nhà kinh doanh chứng khoán. Như New Kids on the Block(NKOTB)

Các công ty

Các công ty trên NASDAQ có khuynh hướng nhỏ hơn và trẻ hơn những công ty trên New York, nhưng thị trường cũng liệt kê chỉ số công nghiệp trung bình DowJones của những nhà khổng lồ Microssoft và Itel. Mặc dù không có nỗ lực nào để lựa chọn những cổ phiếu kỹ thuật đối với Nasdaq 100, chỉ số này thường được coi như một chỉ số “cổ phiếu kỹ thuật” đơn giản bởi vì hỗn hợp của nó là hầu hết các công ty công nghệ kỹ thuật mới.

Nó được đo lường như thế nào ?

Nasdaq 100 được đo lường sử dụng một phương thức nghiêng về tư bản hoá bổ sung. Những công ty lớn hơn được đánh giá chú trọng hơn và việc thiên vị đó được làm để duy trì những công ty lớn đối lại việc xâm nhập của công ty nhỏ hơn. Thuật toán thực tế có xu hướng nghiêng về độc quyền.

Sức mạnh

Những cổ phiếu của Nasdaq 100 là những cổ phiếu kỹ thuật và hâud hết các công ty này không có mặt trong 25 năm trước. Nếu bạn tin tưởng rằng những kỹ thuật mới cuối cùng sẽ cung cấp phần thưởng đầu tư cao hơn những công ty đã ổn định, Qubes là một con đường dễ dàng để nắm một “giỏ” đa dạng gì đó của những công ty này.

Hạn chế

VÌ thiên nhiều về các cổ phiếu kỹ thuật, Nasdaq 100 có thể vô cùng dễ thay đổi. Trong năm 1999 nó lên đến 81%. Hoạt động hiện hành đó bị kéo theo một cuộc sụt giảm 37% trong năm 2000. Đối với những nhà đầu tư Qubes có thể là một cuộc dạo chơi liều lĩnh.

Đầu tư trong hỗn hợp Nasdaq

Bạn có thể mua cổ phần của Nasdaq 100 từ bất kỳ một nhà môi giới chứng khoán nào. Cổ phiếu được mua bán trong ngày dưới biểu tượng mua bán QQQ. Những cổ phiếu QQQ được định giá xấp xỉ 1/40 giá trị của chỉ số Nasdaq 100. Nasdaq 100 Trust Series là một đầu tư thoả hiệp được thiết kế để cung cấp những kết quả đầu tư mà nói chung là phù hợp với việc thực hiện giá và hoa lợi của chỉ số Nasdaq 100. Không có gì chắc chắn rằng việc thực hiện của chỉ số Nasdaq 100 có thể được đáp ứng hoàn toàn.