Đăng bởi Để lại phản hồi

Thu mua máy khâu, xưởng may khu vực miền trung.

Khi quý doanh nghiệp có nhu cầu thanh lý máy khâu, máy may, xưởng may tại khu vực miền Trung hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được phục vụ nhanh nhất trong 24h khi nhận được thông tin từ quý công ty. Kinh doanh tài sản BONDS có nhân viên chuyên thu các thiết bị ngành may với nhiều năm kinh nghiệm tới khảo sát và thỏa thuận với quý doanh nghiệp. 

Sau khi khảo sát đánh giá, chúng tôi sẽ phân loại từng sản phẩm để định giá chính xác nhất. Những máy còn có thể sử dụng sẽ được định giá cao nhất để mang lợi nhuận tốt nhất đến quý khách hàng.

Trăm người bán, vạn người mua, nghiệp vụ thanh lý đã có từ lâu nhưng rộ lên và thành nghề trong những năm gần đây bởi sự phát triền của kinh tế Việt Nam được đánh giá có độ mở lớn nhất thế giới.

Chúng tôi luôn định giá máy khâu, máy may, xưởng sản xuất cao hơn các đơn vị cùng ngành. Bốc dỡ, giải phóng mặt bằng nhanh chóng và an toàn. Thanh toán tiền mặt hoặc chuyển khoản ngay sau khi hai bên thực hiện xong hợp đồng.

Với phương châm “Nhiệt tình, vui vẻ, không ép giá và cạnh tranh lành mạnh”, chúng tôi đảm bảo rằng: Khi đã giao dịch với chúng tôi 1 lần, quý công ty rất khó có thể quên hình ảnh KINH DOANH TÀI SẢN BONDS.

Mọi yêu cầu của Quý Khách xin vui lòng liên hệ:

KINH DOANH TÀI SẢN BONDS

Hotline: 0944 059 703 ( Call, Zalo)

Mail: traiphieu.com@gmail.com

Website: https://traiphieu.com/

Đăng bởi Để lại phản hồi

Giá trị doanh nghiệp là gì? Hiểu rõ để không mua phải doanh nghiệp ‘giấy vụn’.

Giá trị Doanh nghiệp, hay EV ngắn gọn, là thước đo tổng giá trị của một công ty, thường được sử dụng như một sự thay thế toàn diện hơn đối với vốn hóa thị trường vốn chủ sở hữu. Giá trị doanh nghiệp được tính bằng vốn hóa thị trường cộng với nợ, cổ phần thiểu số và cổ phần ưu đãi trừ đi tổng tiền mặt và các khoản tương đương tiền.

EV = giá trị thị trường của cổ phiếu phổ thông + giá trị thị trường của cổ phiếu ưu đãi + giá trị thị trường của khoản nợ + lợi ích của cổ đông thiểu số – tiền mặt và đầu tư.

Thông thường, lợi ích của người thiểu số và vốn chủ sở hữu được ưu tiên là không, mặc dù điều này không phải là trường hợp.

Giảm ‘Giá trị Doanh nghiệp (EV)’

Giá trị doanh nghiệp (EV) có thể được coi là giá tiếp quản lý thuyết nếu một công ty được mua. EV khác với vốn hóa thị trường đơn giản bằng nhiều cách, và nhiều người cho rằng nó là một sự đại diện chính xác hơn về giá trị của một công ty. Ví dụ, giá trị của nợ của một công ty sẽ phải được trả bởi người mua khi tiếp quản một công ty, do đó, giá trị doanh nghiệp cung cấp việc định giá tiếp quản chính xác hơn nhiều vì nó bao gồm nợ trong tính toán giá trị của nó.

Tại sao giá trị vốn hóa thị trường lại không đại diện cho giá trị của một công ty? Nó để lại rất nhiều yếu tố quan trọng, chẳng hạn như một khoản nợ của công ty trên một mặt và dự trữ tiền mặt của nó ở mặt kia. Giá trị doanh nghiệp về cơ bản là một sự điều chỉnh giới hạn thị trường, vì nó kết hợp nợ và tiền mặt để xác định giá trị của một công ty.

Giá trị doanh nghiệp trong thực tiễn

Công thức cho EV là tổng của một giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu (vốn hóa thị trường) và giá trị thị trường của nợ của một công ty, ít tiền mặt hơn. Mức vốn hóa thị trường của một công ty được tính bằng cách nhân giá cổ phiếu bằng số cổ phần đang lưu hành. Nợ ròng là giá trị thị trường của nợ trừ đi tiền mặt. Một công ty mua lại một công ty khác là giữ tiền mặt của công ty mục tiêu, đó là lý do tại sao tiền mặt cần phải được khấu trừ khỏi giá của công ty với giá thị trường.

Hãy tính giá trị doanh nghiệp cho Macy’s (NYSE: M). Trong năm tài chính kết thúc vào ngày 28 tháng 1 năm 2017, Macy ghi nhận:

Dữ liệu của Macy được kéo từ bản cáo bạch 10 tháng 10 năm 2017
1# Cổ phiếu đang lưu lại308,5 triệu
2Giá Cổ phiếu tính đến ngày 17/11/17$ 20.22
3Vốn hóa thị trường6.238 tỷ đô laMục 1 x 2
4Nợ ngắn hạn309 triệu đô la
5Nợ dài hạn6,5 tỷ đô la
6Tổng nợ6,8 tỷ đô laMục 4+ 5
7Tiền và các khoản tương đương tiền1,3 tỷ USD
Giá trị doanh nghiệp11.808 tỷ đô laMục 3 + 6 – 7

Nếu một công ty mua cổ phiếu của Macy với giá 6,24 tỷ đô la, nó cũng sẽ phải thanh toán các khoản nợ chưa thanh toán của Macy với tổng số tiền lên đến 6,87 tỷ đô la. Tổng cộng, công ty mua lại sẽ chi 13,11 tỷ đô la Mỹ để mua Macy’s. Tuy nhiên, vì Macy’s có 1,3 tỷ USD tiền mặt, số tiền này có thể được thêm vào để trả nợ. Số tiền từ kho bạc của công ty mua lại sẽ được sử dụng để trả nợ của Macy sẽ chỉ là 6,87 tỷ đô la – 1,3 tỷ đô la = 5,57 tỷ đô la. Do đó, công ty sẽ chi trả 5,57 tỷ đô la Mỹ + 6,24 tỷ đô la Mỹ = 11,81 tỷ đô la, đó là giá trị thị trường ước tính của Macy’s.

Giá trị doanh nghiệp như một doanh nghiệp nhiều

Doanh nghiệp nhân với giá trị doanh nghiệp liên quan đến tổng giá trị của một công ty được phản ánh trong giá trị thị trường của vốn từ tất cả các nguồn để đo lường thu nhập hoạt động được tạo ra, chẳng hạn như thu nhập trước lãi, thuế, khấu hao và khấu trừ ( EBITDA) .

EBITDA = thu nhập định kỳ từ hoạt động liên tục + lãi + thuế + khấu hao + khấu hao

Giá trị doanh nghiệp / EBITDA nhiều tích cực liên quan đến tốc độ tăng trưởng của dòng tiền tự do cho công ty (FCFF) và tiêu cực liên quan đến mức rủi ro tổng thể của công ty và chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC).

EV / EBITDA rất hữu ích trong một số trường hợp:

  • Tỷ lệ này có thể hữu ích hơn so với tỷ số P / E khi so sánh các doanh nghiệp với mức độ đòn bẩy tài chính khác nhau (DFL).
  • EBITDA rất hữu ích cho việc đánh giá các doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn với mức khấu hao và khấu trừ cao.
  • EBITDA thường là tích cực ngay cả khi thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) không.

EV / EBITDA cũng có một số nhược điểm, tuy nhiên:

  • Nếu vốn lưu động đang phát triển, EBITDA sẽ phóng đại dòng tiền từ hoạt động (CFO hoặc OCF). Hơn nữa, biện pháp này bỏ qua các chính sách nhận dạng doanh thu khác nhau như thế nào có thể ảnh hưởng đến OCF của công ty.
  • Do dòng tiền tự do cho doanh nghiệp thu được số tiền chi tiêu vốn (CapEx) nên nó liên quan chặt chẽ hơn với lý thuyết định giá hơn là EBITDA. EBITDA sẽ là một biện pháp nói chung đầy đủ nếu chi phí vốn bằng nhau với chi phí khấu hao.

Một số khác được sử dụng phổ biến để xác định giá trị tương đối của các doanh nghiệp là giá trị doanh nghiệp theo tỷ lệ bán hàng, hoặc EV / Bán hàng . EV / doanh thu được coi là một biện pháp chính xác hơn so với tỷ lệ Giá / Bán hàng vì nó tính đến giá trị và số tiền nợ mà một công ty có, cần phải được trả lại tại một số điểm. Nói chung, EV / doanh thu bán hàng thấp hơn, nhiều công ty được đánh giá là hấp dẫn hoặc bị đánh giá thấp. Tỷ lệ EV / doanh thu thực tế có thể âm tính vào thời điểm khi tiền mặt nắm giữ bởi một công ty lớn hơn vốn hóa thị trường và giá trị nợ, có nghĩa là công ty về cơ bản có thể tự nó bằng tiền mặt của mình.

 

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chỉ báo Donchian channel


Định nghĩa của “Donchian Channels”

Một kênh Donchian là một chỉ số được hình thành bởi các dải trên và dưới xung quanh thanh giá. Dải trên đánh dấu giá cao nhất của một vấn đề cho n chu kỳ, còn dải dưới đánh dấu mức giá thấp nhất cho n chu kì. Vùng giữa các dải trên và dải dưới đại diện cho Kênh Donchian. Richard Donchian, một nhà kinh doanh hợp đồng tương lai đã phát triển chỉ số này vào giữa thế kỷ hai mươi để giúp ông xác định xu hướng.

GIẢI THÍCH ‘Donchian Channels’

Trong ví dụ này, Kênh Donchian là vùng được bao quanh bởi đường màu xanh lá cây phía trên và đường đỏ dưới, cả hai đều sử dụng 20 ngày làm khoảng thời gian xây dựng ban nhạc. Khi giá di chuyển đến mức cao nhất trong 20 ngày qua hoặc hơn, thanh giá đẩy “đường màu xanh lá cây cao hơn và khi giá giảm xuống mức thấp nhất trong 20 ngày hoặc nhiều hơn, thanh giá sẽ” đẩy “đường đỏ thấp hơn. Khi giá giảm 20 ngày từ mức cao, đường màu xanh lá cây sẽ nằm ngang và sau đó bắt đầu giảm sau 20 ngày. Ngược lại, khi giá tăng từ mức thấp trong 20 ngày, đường màu đỏ sẽ nằm ngang trong 20 ngày và sau đó bắt đầu tăng.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chỉ báo Volatility Ratio

Chỉ số tỷ lệ biến động được thiết kế như một thước đo về phạm vi giá cả. Nó được sử dụng bởi các thương nhân và các nhà phân tích để đánh dấu các mức giá hiện tại và để theo dõi các tín hiệu giao dịch được tạo ra bởi breakouts từ phạm vi giá. Chỉ số này được tính toán dựa trên phạm vi giá đúng thực và phạm vi giá đúng thực tế. Trên biểu đồ, tỷ lệ biến động thường được vẽ như một đường thẳng và xuất hiện trong một cửa sổ thứ hai bên dưới cửa sổ biểu đồ chính.

Tỷ lệ biến động được tính như sau:

Phạm vi True True = Maximum (trung bình của ngày hôm nay cao và ngày hôm qua đóng cửa) – Tối thiểu (trung bình của ngày hôm nay thấp và ngày hôm qua đóng cửa)

Phạm vi True trước đó trên X số ngày = HIGH (trung bình giá cao mỗi ngày theo thời gian X) – LOW (trung bình giá thấp mỗi ngày theo khoảng thời gian X)

Tỷ lệ biến động = Phạm vi True hiện tại / Phạm vi True Trước đó trên X số ngày

Các giá trị mặc định, phổ biến nhất được sử dụng cho X khi tính phạm vi đúng trước đó là 10 hoặc 14.

Tỷ lệ biến động được xác định cho các khoảng thời gian thương nhân khi giá đã vượt quá phạm vi giá gần đây nhất đến mức đủ lớn để tạo thành một sự bứt phá. Các bài đọc chính xác cho thấy sự bứt phá thường được các nhà giao dịch thích nghi với cổ phiếu hay thị trường cụ thể mà họ đang kinh doanh, nhưng một cách đọc thông dụng là 0.5. Mức này đại diện cho điểm mà ở đó phạm vi đúng thật sự gấp hai lần phạm vi đúng trước đó. Để xác nhận tín hiệu đột phá được đưa ra bởi chỉ số tỷ lệ biến động, thương nhân thường sử dụng các chỉ số kỹ thuật khác như khối lượng , do khối lượng giao dịch thường tăng mạnh trong suốt thời kỳ bùng nổ thị trường.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Cùng soi 5 cổ phiếu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong Danh mục của Warren Buffett thời điểm hiện tại

ADD TO WATCHLIST

BRK.A
Berkshire Hathaway Inc

303,100.00


 

+0.05%

KO
Coca-Cola Co

43.72


 

+0.67%

AAPL
Apple Inc

176.21


 

+0.69%

WFC
Wells Fargo & Co

57.41


 

+0.17%

KHC
The Kraft Heinz Company

67.17


 

+0.42%

BAC
Bank of America Corp

31.63


 

+0.48%

View Watchlist

Có lẽ không có danh mục đầu tư khác theo dõi chặt chẽ hơn so với Warren Buffett. Kỷ lục đáng chú ý của ông vượt trội so với S & P 500 là chưa từng có. Các nhà đầu tư đã cố gắng trong nhiều năm để phân tích cổ phiếu của mình, hy vọng để có được trong tâm trí của mình để thu thập một miếng của thiên tài đầu tư của mình. Tài năng của Buffett luôn minh bạch bởi vì ông chưa bao giờ chuyển hướng từ nguyên tắc cơ bản nhất của mình: mua các công ty lớn với giá tốt và giữ chúng mãi mãi. Nguyên tắc này giải thích 5 cổ phiếu hàng đầu mà bạn có thể không tìm thấy trong danh sách mua của hầu hết các nhà phân tích cổ phiếu. Tuy nhiên, năm đầu của ông nắm giữ tất cả đều có một số điểm chung. Họ là các công ty lớn, hoạt động tốt và có bảng cân đối mạnh, và họ tạo ra rất nhiều tiền mặt mà họ quay trở lại cổ đông bằng cổ tức.
táo

Với 14,63% cổ phần Berkshire Hathaway, công ty mà Jobs đã xây dựng là tập đoàn lớn nhất của Buffett. Berkshire Hathaway nắm giữ 165.333.962 cổ phiếu của Apple vào ngày 23 tháng 2 năm 2018. Cổ phiếu này có giá trị 27,97 tỷ đô la. Apple đã thông qua Wells Fargo để giành vị trí số 1 sau khi Berkshire Hathaway mua thêm cổ phần của Apple vào tháng Hai năm 2018.
Wells Fargo & Công ty

Với 14,54% danh mục đầu tư của mình, Wells Fargo & Company (NYSE: WFC

WFC

Wells Fargo & Co

57.41

+0.17%

) là vị trí lớn thứ hai của Buffett và giữ vị trí # 1 trong nhiều năm. Buffett bắt đầu đầu tư vào Wells Fargo vào năm 1989 và đã được thêm vào vị trí của mình kể từ đó. Ông nắm giữ hơn 458 triệu cổ phiếu trị giá 27,8 tỷ đô la, tính đến tháng Hai năm 2018. Cổ phần của Buffett trong WFC là 27,8 tỷ.
Công ty Kraft Heinz

Tập đoàn lớn thứ ba của Buffett đã đến với ông thông qua sự sáp nhập của tập đoàn thực phẩm Kraft và HJ Heinz Company. Buffett sở hữu 500 triệu cổ phần của Heinz trước khi sáp nhập. Ông đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác với đối tác đầu tư, 3G Capital, vốn sở hữu cổ phần tương tự tại Heinz. Sau khi sáp nhập, Buffett hiện sở hữu 325,6 triệu cổ phiếu của công ty, trị giá 25,3 tỷ đô la.
Ngân hàng Hoa Kỳ

Với 679 triệu cổ phiếu cho tên của ông, cổ phần lớn thứ tư của Buffett là ở Bank of America. Cổ phần của ông trị giá 20 tỷ USD và chiếm 10,48% danh mục đầu tư của ông. Bank of America là công ty lớn thứ hai trong ngành tài chính sau Wells Fargo.
Công ty Coca-Cola

Buffett đã từng tuyên bố ông uống khoảng 5 lon Coca-Cola mỗi ngày, có thể hoặc không phải là lý do tại sao công ty Coca-Cola (NYSE: KO

KO

Coca-Cola Co

43.72

+0.67%

) lại là cổ phần lớn thứ năm của ông. Chắc chắn ông thích độ bền của sản phẩm chính của công ty, mà hầu như không thay đổi theo thời gian. Buffett bắt đầu mua cổ phiếu của Coca-Cola vào cuối những năm 1980 và không dừng lại cho đến khi nó chiếm 25% danh mục đầu tư, bây giờ đó là nghiện đường. Ông nắm giữ 400 triệu cổ phiếu với tổng giá trị thị trường 18,3 tỷ đô la, chiếm 9,6% danh mục đầu tư của ông. Miễn là danh tiếng thương hiệu của công ty và các hệ thống phân phối toàn cầu vẫn còn đẳng cấp thế giới, và dòng tiền mặt trong tương lai vẫn còn cao, Coca-Cola có thể vẫn giữ vị trí hàng đầu đối với Buffett.

us: 

Đăng bởi Để lại phản hồi

Phương pháp sử dụng hợp đồng tương lai VN30F để bảo vệ danh mục đầu tư

Một nhà quản lý danh mục cổ phiếu muốn bảo vệ giá trị của danh mục trước rủi ro xuất hiện những diễn biến bất lợi chung của thị trường chứng khoán. Vậy họ cần phải làm sao?
Chúng ta cùng xét một ví dụ cụ thể để làm sáng tỏ vẫn đề trên.
Giả sử bạn là người chịu trách nhiệm quản lý một danh mục cổ phiếu đã được đa dạng hóa với giá trị hiện tại là 185 triệu USD.

Phân tích các điều kiện của thị trường khiến bạn tin rằng thị trường chứng khoán nhạy cảm bất thường với một đợt giảm giá trong vài tháng tới, điều này khiến bạn lo lắng và tin rằng cần phải thực hiện động thái phòng ngừa.

Bạn quyết định sử dụng các hợp đồng tương lai chỉ số để bảo vệ danh mục cổ phiếu trước đà sụt giảm giá trị.
Và, để phòng ngừa, bạn có biết cần mua bao nhiêu hợp đồng tương lai chỉ số để hình thành một giao dịch phòng ngừa hiệu quả?
Chúng ta sẽ cần dùng tới 3 yếu tố đầu vào để ước tính số lượng hợp đồng tương lai chỉ số cần thiết để phòng ngừa hiệu quả cho một danh mục cổ phiếu:
  1. Giá trị hiện tại của danh mục cổ phiếu của bạn
  2. Hệ số Beta của danh mục cổ phiếu của bạn
  3. Giá của hợp đồng tương lai chỉ số sử dụng để phòng ngừa
Phương pháp phòng ngừa này được xây dựng dựa trên hệ số Beta – một hệ số được sử dụng để đo lường rủi ro thị trường của một danh mục.
Về cơ bản, Beta sẽ đo lường độ nhạy cảm của danh mục so với thị trường chứng khoán tổng thể. Đặc biệt, khi Beta = 0 thì danh mục của bạn sẽ không còn bị tác động bởi sự biến động của thị trường (tức không có rủi ro thị trường).
Đây cũng là ý tưởng của phương pháp chuyển Beta hiện tại của danh mục về mức 0 bằng cách kết hợp với các hợp đồng tương lai chỉ số.
Cụ thể, giả sử danh mục trị giá 185 triệu USD của bạn có hệ số Beta bằng 1.25 (Beta 1.25 có nghĩa là biên độ dao động của danh mục bạn đang nắm giữ nhiều hơn thị trường 25%).
Bạn tin rằng thị trường sẽ đi xuống trong vòng 3 tháng tới. Với mức Beta hiện tại là 1.25, khi thị trường bắt đầu giảm giá thì danh mục của bạn nhiều khả năng sẽ lao dốc mạnh hơn cả thị trường.
Để tránh trường hợp trên xảy ra, bạn quyết định sử dụng hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 để cố gắng chuyển danh mục có Beta là 1.25 sang một danh mục có Beta là 0 – tức lúc đó danh mục của bạn không còn chịu ảnh hưởng từ sự biến động của thị trường.
Bạn thấy rằng, giá hợp đồng tương lai S&P 500 có kỳ hạn 3 tháng hiện ở mức 1,480 USD (hệ số nhân là 250). Vì quy mô của hợp đồng tương lai S&P 500 bằng 250 nhân với mức chỉ số, do đó giá hiện tại của một hợp đồng tương lai S&P 500 là 250*1,480 = 370,000 USD.
Với các thông tin trên, bạn đã có đủ các số liệu đầu vào cần thiết để tính toán số lượng hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500. Số lượng hợp đồng tương lai để chuyển Beta của danh mục từ 1.25 sang 0 được xác định theo công thức sau:

Theo đó, bạn cần phải thiết lập vị thế bán 625 hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500. Giao dịch phòng ngừa ngắn hạn này sẽ bảo vệ danh mục của bạn khỏi rủi ro thị trường chứng khoán đồng loạt sụt giảm trong suốt 3 tháng còn lại của hợp đồng tương lai vì lúc này danh mục mới có hệ số Beta là 0.
Bạn có thể thấy rằng, công thức (14.7) có thể được sử dụng để thay đổi Beta của danh mục xuống bất kỳ mức nào bạn muốn. Tuy nhiên, nếu Beta không phải là mức 0 thì không được xem là một giao dịch phòng ngừa, bởi vì danh mục của bạn vẫn sẽ chịu rủi ro hệ thống./.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Các phương pháp chủ yếu sử dụng trong phân tích Báo cáo tài chính Doanh nghiệp

Phương pháp chung.

Là phương pháp xác định trình tự bước đivà những nguyên tắc cần phải quán triệt khi tiến hành phân tích một chỉ tiêu kinh tế nào đó.
Với phương pháp này là sự kết hợp triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác- LêNin làm cơ sở. Đồng thời phải dựa vào các chủ trương, chính sách của Đảng trong từng thời kỳ. Phải phân tích đi từ chung đến riêngvà phải đo lường được sự ảnh hưởng và phân loại ảnh hưởng.
Tất cả các điểm trên phương pháp chung nêu trên chỉ được thực hiện khi kết hợp nó với việc sử dụng một phương pháp cụ thể. Ngược lại các phương pháp cụ thể muốn phát huy tác dụng phải quán triệt yêu cầu của phương pháp chung.

Các phương pháp cụ thể.

Đó là những phương pháp phải sử dụng những cách thức tính toán nhất định. Trong phân tích tình hình tài chính, cũng như phạm vi nghiên cứu của luận văn, em xin được đề cập một số phương pháp sau:

Phương pháp so sánh.

So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Vì vậy để tiến hành so sánh phải giải quyết những vấn đề cơ bản, cần phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể so sánh được các chỉ tiêu tài chính. Như sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán. Đồng thời theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh.
-Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu số gốc để so sánh là trị số của chỉ tiêu kỳ trước (nghĩa là năm nay so với năm trước ) và có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân.
-Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo, kỳ kế hoạch.
-Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian.
Trên cơ sở đó, nội dung của phương pháp so sánh bao gồm:
+ So sánh kỳ thực hiện này với kỳ thực hiện trước để đánh giá sự tăng hay giảm trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó có nhận xét về xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp.
+So sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch, số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành, của doanh nghiệp khác để thấy mức độ phấn đấu của doanh nghiệp được hay chưa được.
+So sánh theo chiều dọc để xem tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự thay đổi về lượng và về tỷ lệ của các khoản mục theo thời gian.

Phương pháp cân đối.

Là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế mà giữa chúng tồn tại mối quan hệ cân bằng hoặc phải tồn tại sự cân bằng.
Phương pháp cân đối thường kết hợp với phương pháp so sánh để giúp người phân tích có được đánh giá toàn diện về tình hình tài chính.
Phương pháp cân đối là cơ sở sự cân bằng về lượng giữa tổng số tài sản và tổng số nguồn vốn, giữa nguồn thu, huy động và tình hình sử dụng các loại tài sản trong doanh nghiệp. Do đó sự cân bằng về lượng dẫn đến sự cân bằng về sức biến động về lượng giữa các yếu tố và quá trình kinh doanh.

Phương pháp phân tích tỷ lệ.

Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nó dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính.
Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn. Qua đó nguồn thông tin kinh tế và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn. Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ như:
+ Tỷ lệ về khả năng thanh toán : Được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
+ Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: Qua chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính.
+ Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh : Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp.
+ Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp nhất của doanh nghiệp.
Kết luận: Các phương pháp trên nhằm tăng hiệu quả phân tích. chúng ta sẽ sử dụng kết hợp và sử dụng thêm một số phương pháp bổ trợ khác như phương pháp liên hệ phương pháp loại trừ nhằm tận dụng đầy đủ các ưu điểm của chúng để thực hiện mục đích nghiên cứu một cách tốt nhất.

Nhiệm vụ, nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp

Nhiệm vụ phân tích .

Nhiệm vụ của phân tích tình hình tài chính là trên cơ sở các nguyên tắc về tài chính doanh nghiệp và phương pháp phân tích mà tiến hành phân tích đánh giá thực trạng của hoạt động tài chính, vạch rõ những mặt tích cực và tiêu cực của việc thu chi tiền tệ, xác định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố. Từ đó đề ra các biện pháp tích cực nhằm nâng cao hơn hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.


Nội dung của phân tích.

Xuất phát từ các nhiệm vụ trên ta thấy sự phát triển của một doanh nghiệp dựa vào nhiều yếu tố như:
+Các yếu tố bên trong : Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, tính chất của sản phẩm, quy trình công nghệ, khả năng tài trợ cho tăng trưởng.
+ Các yếu tố bên ngoài: Sự tăng trưởng của nền kinh tế, tiến bộ khoa học kỹ thuật, chính sách tiền tệ, chính sách thuế.
Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trườngcó sự quản lý vĩ mô của nhà nước, các doanh nghiệp đều được bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh. Đối với mỗi doanh nghiệp, ngoài chủ doanh nghiệp quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp còn có các đối tượng khác quan tâm đến như các nhà đầu tư, các nhà cung cấp, các nhà cho vay… Chính vậy mà việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho người sử dụng thông tin nắm được thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình tài chính. Từ đó đưa ra các biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh.
Từ những lý luận trên nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ đánh giá đầy đủ nhất và là bức tranh toàn cảnh khái quát về tình hình tài chính doanh nghiệp.

Đánh giá khái quát về tình hình tài chính doanh nghiệp.

ở phần này, bao gồm các vấn đề sau:
  • Phân tích tình hình biến động tài sản.
  • Phân tích tình hình biến động nguồn vốn.
  • Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn.

Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Phân tích tình hình quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp.

  • Phân tích tình hình quản lý và sử dụng tài sản lưu động.
  • Phân tích hiệu quả tài sản lưu động.
  • Phân tích tình hình quản lý hiệu quả sử dụng tài sản cố định.

Phân tích tình hình quản lý và sử dụng nguồn vốn.

  • Phân tích tình hình công nợ phải trả.
  • Phân tích tình hình và khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu.
Toàn bộ các nội dung trên sẽ được nghiên cứu và trình bày một cách cụ thể ở phần II của luận văn.

Cơ sở nguồn tài liệu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

Tài liệu quan trọng nhất được sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là các báo cáo tài chính như : Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và tình hình cụ thể của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính là những báo cáo được trình bày hết sức tổng quát, phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành vốn, tình hình tài chính, cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong hệ thống báo cáo tài chính, Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một tư liệu cốt yếu trong hệ thống thông tin về các doanh nghiệp.

Bảng cân đối kế toán.

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định ( thời điểm lập báo cáo).
Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguôn vốn và cơ cấu vốn hình thành các tài sản đó.
Thông qua bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp sẽ có rất nhiều đối tượng qua tâm với mỗi đối tượng sẽ quan tâm tới một mục đích khác nhau. Tuy nhiên để đưa ra quyết định hợp lý, phù hợp với mục đích của mình cần phải xem xét tất cả những gì cần phải thông qua bảng cân đối kế toán để định hướng cho việc nghiên cứu tiếp theo.
Bảng cân đối kế toán được trình bày thành hai phần: Phần tài sản và phần nguồn vốn. Kết cấu của bảng cân đối kế toán tối thiểu gồm ba cột: Chỉ tiêu, số đầu năm, số cuối kỳ. Hai phần tài sản và nguồn vốn có thể được bố trí hai bên hoặc hai phần, cho nên tổng tài sản luôn bằng tổng nguồn vốn. Nếu cụ thể hoá ta có:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Đăng bởi Để lại phản hồi

Mô hình Dupont trong phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp

Mô hình phân tích tài chính Dupont được phát minh bởi F.Donaldson Brown, một kỹ sư điện người đã gia nhập bộ phận tài chính của công ty hóa học khổng lồ này.

Theo phương trình (**), để gia tăng ROE  ta có thể thực hiện các giải pháp sau:

– Tăng ROS: bằng cách thực hiện cắt giảm chi phí

– Tăng vòng quay TS: bằng cách tăng hiệu quả sử dụng từng tài sản

– Tăng tỷ số nợ: khi tỷ số nợ tăng sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tăng tỷ số này là tốt nhưng tăng bao nhiêu là tùy vào kế hoạch tài chính của từng doanh nghiệp

Câu hỏi đặt ra: Khi nào ROE bàng quan với Debit?

– ROA > r, D tăng thì ROE tăng

– ROA < r, D tăng thì ROE giảm

– ROA = r, D tăng hoặc giảm thì ROE không đổi

Đăng bởi Để lại phản hồi

Công ty cổ phần đại chúng đầu tiên và vĩ đại nhất trong lịch sử của nhân loại.

Thay vì xuất xứ từ nền văn minh Hoa Kỳ hay Anh Quốc như mọi người thường nghĩ, công ty cổ phần Đông Ấn Hà Lan Hợp nhất – United Dutch East India Company – hay ngôn ngữ bản địa gọi là The Vereenigde Oost-Indische Compagnie (VOC), ngạc nhiên thay, lại là công ty cổ phần đại chúng đầu tiên và vĩ đại nhất trong lịch sử của nhân loại.



VOC được thành lập vào năm 1602 tại Amsterdam bằng việc hợp nhất 6 công ty thương mại Đông Ấn ở các thành phố (Amsterdam, Middelburg, Enkhuizen, Delft, Hoorn và Rotterdam) trong bối cảnh chiến tranh và hỗn loạn giữa Hà Lan và bán đảo Tây Ban Nha – Bồ Đào Nha. Chính phủ Hà Lan đã tài trợ vốn và trao lợi thế độc quyền phân phối gia vị trong 21 năm cho tập đoàn VOC để khuyến khích nền thương mại mới nổi của quốc gia đang trong chiến tranh này. Vốn điều lệ của công ty VOC mới thành lập là 6.44 triệu guilders – tương ứng với 107 triệu euros ngày nay.

Để người đọc có thể hình dung dễ dàng hơn về bối cảnh lúc đó, kể từ trước giai đoạn thập niên 1580s, mọi giao dịch gia vị ở khu vực Đông Ấn (East Indies – một cách gọi của phương Tây xưa khi nói đến khu vực Đông Nam Á của chúng ta) được độc quyền khai thác bởi quân đội Bồ Đào Nha và phân phối tại thủ phủ Hamburg của Đức. Tất cả các gia vị này (bao gồm tiêu, gừng, đinh hương, bột nhục đậu khẩu, …) có giá rất cao do nhu cầu thường xuyên mà nguồn cung thì lại hữu hạn vì hầu hết gia vị ngày đó được chuyên chở qua con đường bộ đầy xa xôi và chậm trễ so với đường biển.
Tuy nhiên, sau khi liên minh hoàng gia Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha tuyên chiến với Hà Lan vào năm 1580, các doanh nhân mạo hiểm của quốc gia này bắt đầu nắm lấy cơ hội khổng lồ này bằng cách vượt biển để thiết lập nên đế chế gia vị đầu tiên của Hà lan. Vào năm 1599, tám chiếc tàu đầu tiên trở về từ quần đảo gia vị Maluku, Indonesia với hàng chục tấn gia vị tiêu mua trực tiếp đã mang về lợi nhuận hơn 400% sau hai năm trên vốn đầu tư cho các doanh nhân.

Sự thuận lợi trên của VOC thoạt nhìn có thể nói là khá tiêu biểu cho các doanh nghiệp thương mại đường biển ngày ấy. Tuy nhiên, chính sáng kiến về phương thức huy động vốn, phân quyền sở hữu và quản trị doanh nghiệp sau đó mới là tinh hoa khiến nó trở thành công ty vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.
II. Phát hành cổ phần & thời kỳ thịnh vượng

Trong số sáu công ty được hợp nhất đó, có một thành viên sáng lập đáng chú ý tên là Dirck Bas. Là một thủy thủ và đại sứ lâu năm kinh nghiệm của Hà Lan, Dirck Bas đã góp 6000 guilders vào công ty cùng với 16 người khác và đóng vai trò giám đốc điều hành (managing director) doanh nghiệp tương tự như mô hình công ty ngày nay. Đáng chú ý, trong bản điều lệ của công ty 1606, tất cả những thành viên đại chúng góp vốn khác sau thời điểm này cho VOC sẽ nhận được một “aktie”, hay có thể gọi là một chứng nhận quyền sở hữu doanh nghiệp, một phần của lợi nhuận tương lai và là một “cổ phiếu” đầu tiên trong lịch sử thế giới.

Sau phát minh IPO thành công vang dội này, VOC nhanh chóng trở thành một công ty đại chúng hùng mạnh với hàng nhìn cổ đông từ khắp các thành phố tại Hà Lan. Tuy nhiên đi kèm với số đông nhà đầu tư, nhu cầu chuyển nhượng cổ phiếu bắt đầu xuất hiện. 03 năm kể từ khi phát hành cổ phần, Dirck Bas và các thành viên hội đồng quản trị quyết định rằng: những cổ đông nào muốn bán lại cổ phần để hiện thực hóa lợi nhuận phải chuyển nhượng cho một cổ đông/nhà đầu tư khác thay vì phải giao dịch trực tiếp với công ty để lấy tiền mặt. Và sau một đêm, thị trường giao dịch cổ phiếu VOC được thành lập tại Amsterdam – một thị trường chứng khoán thực sự đầu tiên của thế giới.
Hơn nữa, trong những năm sau đó, VOC bắt đầu mở rộng hoạt động mình ra khắp châu Á với việc mở chi nhánh tại Jakarta, Nhật Bản, Sri Lanka, Đài Loan, mũi Hảo Vọng tại Nam Phi và hàng loạt các nơi khác trên con đường thương mại biển dọc Ấn Độ Dương & Thái Bình Dương, chính thức đánh dấu mốc phát triển thành một “tập đoàn đa quốc gia” đầu tiên trên thế giới. Quyền lực của VOC không chỉ nằm ở kênh phân phối rộng khắp, lợi thế độc quyền và quy mô vốn khổng lồ, mà còn là quyền lực “vũ trang” thực sự. Trong thời kỳ đỉnh cao của mình, VOC sở hữu 40 đại chiến hạm (man-o-war) và 10,000 bộ binh để bảo vệ hàng hóa và khai phá các vùng đất mới.
United East India Company cũng là ví dụ đầu tiên cho lí thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô (economies of scale). Nhờ vào khối lượng giao dịch lớn và ổn định, chi phí vận chuyển và duy trì đội tàu chuyên chở trên mỗi đơn vị đã giảm đáng kể, giúp đem lại lợi nhuận khổng lồ cho các nhà đầu tư. Từ 1602 đến 1736, trung bình mỗi năm VOC trả cổ tức với lợi suất 16.5% trên vốn gốc của cổ đông; 136 năm lịch sử chi trả cổ tức đều đặn là một thành tựu đáng kinh ngạc nếu so với thời đại hiện nay.

Hơn nữa, sau hơn một thập kỷ điều hành, Dirck Bas – thành viên sáng lập mà chúng tôi đã đề cập ở trên – đã sở hữu khối tài sản ròng lên đến 500,000 guilders từ vốn gốc 6,000 guilders ban đầu, một mức tăng hơn 80 lần với giá trị quy đổi hiện tại lên đến gần 5 triệu euros. Mặc dù rất ít được đề cập nhiều như Gates, Buffett, Jobs, Musk, hay Jack Ma của ngày nay, ông chính là tấm gương đầu tiên của tinh thần khởi nghiệp: luôn giăng buồm hướng đến những thứ không chắc chắn, luôn sáng tạo ra những mô thức mới và luôn phục vụ lợi ích của dân chúng cùng với các nhà đầu tư.
III. Thời kỳ suy tàn sau gần 200 năm phát triển

Mặc dù là công ty vĩ đại nhất trong lịch sử, VOC cũng không thể tránh khỏi quy luật chọn lọc tự nhiên của tạo hóa. Đầu thế kỷ 19, sau hàng chục năm trì trệ từ chính công ty cũng như bối cảnh của đất nước Hà Lan, United Dutch East India Company đã bị thâu tóm bởi tập đoàn East India của Anh Quốc giữa các cuộc chiến tranh với Napoléon.
Sau gần 200 năm phát triển và sự ra đi của các nhà sáng lập đầu tiên, hoạt động kinh doanh của VOC lại teo tóp dần thay vì tăng trưởng theo lãi kép như chúng ta tưởng tượng. Khá nhiều nhà phân tích đã đúc kết có 05 lý do và sai lầm chính trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ của VOC:

(1) Kém linh hoạt và chậm chạp so với đối thủ cạnh tranh
Sau khi chiếm lĩnh thị trường gia vị, các nhà lãnh đạo của VOC tỏ ra chủ quan và bắt đầu dừng đổi mới so với thế hệ đầu tiên. Thị trường nhập khẩu trực tiếp trà, cà phê và may mặc tại thủ phủ Trung Quốc đã bị chiếm độc quyền hoàn toàn bởi các doanh nghiệp thương mại lớn của Anh Quốc và các nước bán đảo Tây Âu khác. Do đó, VOC dần mất lợi thế cạnh tranh về chi phí và sớm rời khỏi cuộc chơi thương mại với châu Á chỉ trong vòng vài thập kỷ chủ quan.

(2) Chính sách cổ tức và quản lý dòng tiền sai lầm
Tự hào về chính sách cổ tức hào phóng của mình, giám đốc điều hành của VOC đã thường xuyên chi hơn ¾ lợi nhuận của công ty để chi trả cổ tức. Chính sách này đã một phần khiến VOC “tự hại” bản thân khi công ty ngày càng thiếu hụt dòng tiền để tái đầu tư và trả nợ vay cho các chủ nợ quốc tế.

(3) Chế độ đãi ngộ nhân viên thấp kém dẫn đến tham nhũng và trộm cắp trong nội bộ
Một cách khách quan, VOC là một nhà tuyển dụng tồi với chế độ lương bổng thấp và có nhiều hạn chế trong việc mua bán cổ phiếu công ty đối với các nhân viên nội bộ. Vì lí do đó, tình trạng tham nhũng và làm việc kém hiệu quả bắt đầu xuất hiện tràn lan và trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của công ty kể từ 1790s trở đi.

(4) Sự trỗi dậy của các cuộc cách mạng công nghiệp tại Anh và Hoa Kỳ
Với sự trỗi dậy của các cuộc cách mạng công nghiệp (máy móc, đường sắt, tự động hóa và các loại hàng hóa công nghiệp mới) đã gây ảnh hưởng có tầm vĩ mô đến năng lực cạnh tranh của các quốc gia thương mại truyền thống. Thị trường tài chính Amsterdam đã dần mất đi sức hút và bị chuyển dịch sang London, New York và Paris, gián tiếp làm cho kế hoạch huy động vốn của VOC ngày càng khó khăn trong giai đoạn những năm cuối thể kỷ 18.

(5) Sự bị động và yếu kém của Sở giao dịch chứng khoán Amsterdam và cơ quan quản lý tài chính
Trong khi các thị trường tài chính khác như London, New York có thêm các công ty đại chúng niêm yết mỗi ngày, Sở Giao Dịch Amsterdam lúc bấy giờ có quy mô vô cùng nhỏ và bị phụ thuộc chi phối bởi 02 công ty chính là VOC và WIC (West Indies Company). Thanh khoản giao dịch thấp, thị trường huy động trái phiếu và cổ phiếu ảm đạm, thiếu vắng chính sách khuyến khích dẫn đến việc phụ thuộc vào vốn vay nước ngoài đối với VOC và WIC đã phần nào khiến hai công ty này gia tăng đòn bẩy lớn và lâm vào cảnh cùng cực về tài chính. Song các nhà lãnh đạo Sở giao dịch chứng khoán vẫn thờ ơ và tiếp tục hoạt động họ cho là truyền thống và đem lại lợi nhuận.

Như vậy, sau gần 200 năm phát triển, sự chậm chạp đổi mới và thất bại trong cạnh tranh đã khiến tượng đại vĩ đại nhất trong các tập đoàn đa quốc gia lúc bấy giờ sụp đổ.

IV. Những di sản về sáng kiến tài chính & quản trị doanh nghiệp hiện đại

Mặc dù không thể tồn tại hơn 400 năm cho đến ngày nay, United Dutch East India Company vẫn luôn là một trong những thành tựu vĩ đại và đáng tự hào nhất của người Hà Lan xét đến những di sản về thị trường tài chính và quản trị doanh nghiệp hiện đại mà nó để lại:
Phát minh ra cổ phiếu, giấy chứng nhận quyền sở hữu có thể chuyển nhượng và là một phần lợi nhuận doanh nghiệp trong tương lai.Cổ phiếu của Dutch East India Co. ngày ấy
Phát minh ra thị trường chứng khoán thứ cấp, nơi mà các cổ đông có thể tự do chuyển nhượng, thiết lập giá dựa trên quy luật cung – cầu đầy công bằng, giúp thay đổi diện mạo của nền tài chính vĩnh viễn.
Công ty đầu tiên chú trọng đến cơ cấu quản trị doanh nghiệp hiện đại với việc phân quyền cho các giám đốc điều hành thường xuyên. Đây cũng là công ty đầu tiên đưa ra chính sách cổ tức trả bằng hàng hóa (pay in kind) sáng tạo thay vì tiền mặt.
Amsterdam cũng là cái nôi đầu tiên cho thị trường phái sinh, nơi các nhà bán khống đầu tiên và các hợp đồng tương lai hàng hóa được sản sinh ra.
Tập đoàn đa quốc gia đầu tiên với việc mở rộng chi nhánh hoạt động xuyên lục địa và sáng tạo ra định nghĩa về “toàn cầu hóa”.
Một cách gián tiếp, VOC cũng tạo điều kiện cho nhà đầu tư chủ động (activist investor) đầu tiên xuất hiện – Isaac Le Maire – với thương vụ thâu tóm cổ phần và yêu cầu thay đổi ban lãnh đạo.
Cuối cùng, VOC và các doanh nhân như Dirck Bas chính là tượng đài đầu tiên cho tinh thần khởi nghiệp kinh doanh bằng một tổ chức công ty thay vì các nhóm mạo hiểm và dự án tài trợ một lần.
V. Kết luận

Có thể nói câu chuyện về công ty cổ phần đại chúng đầu tiên này vừa thỏa sức tò mò của chúng ta, vừa tạo động lực không hề nhỏ cho các thế hệ doanh nhân khởi nghiệp trẻ và những nhà đầu tư giá trị của Việt Nam trên con đường giăng buồm tới những chốn không chắc chắn nhưng đầy tiềm năng.

Quay trở lại câu chuyện một chút, giai đoạn cuối thế kỷ 17, có một doanh nhân trẻ – một tay đánh bạc cự phách và là một kẻ vượt ngục người Scotland – đã công du sang Amsterdam và lấy được nguồn cảm hứng từ sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán cũng như câu chuyện vĩ đại của VOC. Ông ta tên là John Law, một huyền thoại khét tiếng trong lịch sử tài chính đã để lại dấu ấn in đậm trong dân chúng Pháp đến nhiều thế kỷ sau. Tuy nhiên hỡi các đọc giả thân mến, câu chuyện đầy li kì ấy sẽ là chủ đề cho các kỳ ấn phẩm tiếp theo.

Đăng bởi Để lại phản hồi

[ETFs (Quỹ hoán đổi Danh mục)] BÀI 3: CÁC ẢNH HƯỞNG CỦA ETFs ĐẾN TTCK VIỆT NAM VÀ TRADE CÙNG ETFs

Các nội dung chính
         Các quỹ ETF sẽ mua bán để cân bằng giá và NAV như thế nào?
         Một số điểm cần lưu ý khi ETFs review Danh mục hàng quý?
         Các hoạt động trên tác động đến TTCK Việt Nam như thế nào?
         Tận dụng các tác động đó, NĐT có thể mua hoặc bán cổ phiếu như thế nào?

3.1             Cơ chế cân bằng giá (Creation/Redemption Mechanism)
Các tính huống sau đây được minh họa bởi chứng chỉ quỹ của V.N.M ETF. Từ các bài trước, chúng ta nhận thấy rằng có 3 thị trường có liên quan đến các NĐT và quỹ ETF như sau:
(1)  Thị trường sơ cấp ở Mỹ:nơi mà các NĐT tổ chức (AP) hoán đổi ccq với Công ty quản lý quỹ (Ở đây là Vaneck)
(2)  Thị trường thứ cấp:Sở giao dịch chứng khoán Mỹ (NYSE), nơi các ccq được niêm yết và giao dịch, mua bán giữa các NĐT cá nhân với nhau. Các đơn vị ETF được giao dịch ở đây và giá của mỗi ccq được xác định sau mỗi phiên giao dịch.
(3)  Thị trường cơ sở:TTCK Việt Nam nơi mà Vaneck mua danh mục cổ phiếu cơ sở. NAV (giá trị tài sản ròng) của Quỹ được xác định ở đây sau mỗi phiên giao dịch tại TTCK Việt Nam.
Về nguyên tắc, giá của mỗi ETF (bước 2) phải cân bằng với NAV của quỹ (bước 3). Tuy nhiên, trong thực tế, do phí quản lý quỹ, do các điều kiện thị trường khác nhau, giá của mỗi đơn vị ETF và NAV không bằng nhau. Khi đó, quỹ sẽ xuất hiện các tình trạng như sau:
·        Premium: Khi giá của đơn vị ETF > NAV của quỹ.
·        Discount: Khi giá của đơn vị ETF < NAV của quỹ.
Mức premium/discount nào là chấp nhận được? và điều gì sẽ xảy ra khi mức premium/discount quá lớn?
Biểu đồ thể hiện sự so sánh giữa giá đóng cửa của ccq và NAV của quý trong quý 1/2015.
·        Trục tung: so sánh giá đóng cửa của ccq với NAV của quỹ, hay mức premium/discount.
·        Trục hoành: số ngày tồn tại trạng thái premium/discount trong quý.
Ta thấy, đa số các ngày trong quý, quỹ ở mức premium/discount -1% đến 1% (hay NAV và giá của ccq khá cân bằng) và rất ít khi tồn tại mức premium/discount lớn (> 3%, <-2.5%).
Vậy điều gì giúp cho giá của ccq và NAV luôn cân bằng trong giới hạn cho phép?
Đó là nghiệp vụ arbitrage. Theo đó, các AP (authorized participant) thực hiện arbitrage để giảm chênh lệch giá giữa thị trường sơ cấp và thứ cấp, đồng thời làm tăng thanh khoản cho CCQ. Cách thực được mô tả trong sơ đồ và các bước như sau:
Sơ đồ cho thể hiện sự tham gia của các đối tượng trong cơ chế cân bằng giá và NAV


Khi Quỹ Premium(Giá đơn vị ETF > NAV)
·    Trước tiên, AP bán khống ETF trên thị trường thứ cấp (Sở giao dịch chứng khoán NewYork- NYSE)
·        Đồng thời, AP mua danh mục cơ cấu (PDF) trên thị trường cơ sở (TTCK Việt Nam)
·      Sau đó, AP yêu cầu Vaneck phát hành (create) các lô đơn vị ETF trên thị trường sơ cấp(Mỹ)
Áp lực bán CCQ từ AP trên NYSE sẽ làm giảm giá ETF, lực mua cổ phiếu của AP trên TTCK Việt Nam làm tăng giá cổ phiếu trong danh mục và tăng NAV của quỹ. Quá trình này tiếp tục diễn ra cho đến lúc mức premium giảm xuống, giá ETF và NAV trở nên cân bằng hơn. Hoạt động này làm tăng (creation) số lượng chứng chỉ quỹ.
Khi quỹ Discount (Giá đơn vị ETF < NAV)
·        Trước tiên, AP bán danh mục cơ cấu (PDF) trên thị trường cơ sở (TTCK Việt Nam)
·        Đồng thời, AP mua đơn vị ETF trên thị trường thứ cấp (SGDCK NYSE)
·     Sau đó, AP yêu cầu Vaneck hoán đổi (redeem) lô ETF lấy danh mục cơ sở trên thị trường sơ cấp Mỹ.
Áp lực bán cổ phiếu từ AP trên TTCK Việt Nam, làm giảm giá cổ phiếu trong danh mục và giảm NAV của quỹ. Lực mua CCQ của AP trên NYSE làm tăng giá ETF. Hoạt động này làm giảm (redemption) số lượng chứng chỉ quỹ và diễn ra cho đến lúc mức discount tăng lên, giá ETF và NAV trở nên cân bằng hơn.
Tóm lại:
·        Khi quỹ premium, có khả năng các quỹ sẽ tăng ccq và các NĐT NN có khuynh hướng mua ròng trên TTCK Việt Nam.
·        Khi quỹ discount, có khả năng các quỹ sẽ giảm ccq và các NĐT NN có khuynh hướng bán ròng trên TTCK Việt Nam.
Đồ thị sau đây mô tả thêm cho kết luận ở trên. Theo đó, có một mức độ tương quan nhất định giữa tình trạng premium và trạng thái mua ròng, discount và trạng thái bán ròng.

 3.2.           Review Danh mục
3.2.1.     VNM ETF
Các ngày cần chú ý
         Ngày chốt dữ liệu: Dữ liệu cho đợt xem xét được xác định dựa trên giá đóng cửa của ngày làm việc cuối cùng (từ thứ 2 đến thứ 6) trong tháng 2, tháng 5, tháng 8 và tháng 11.
         Ngày công bố: Ngày Thứ Sáu thứ hai của tháng cuối quý (tháng 3, 6, 9, và 12).
         Ngày thực hiện: Ngày Thứ Sáu thứ ba của tháng cuối quý (tháng 3, 6, 9, và 12).
         Ngày có hiệu lực: Ngày Thứ Hai của tuần tiếp theo Ngày thực hiện.
Tiêu chí sàng lọc
         Tiêu chí 1: Free-float
         Tiêu chí 2: Quy mô
         Tiêu chí 3: Thanh khoản
         Tiêu chí 4: Room nước ngoài
3.2.2.     FTSE ETF
Các ngày cần chú ý
         Ngày chốt dữ liệu: Dữ liệu sử dụng cho đợt xem xét được xác định dựa trên giá đóng cửa của ngày thứ 6 cuối cùng trong tháng 2, tháng 5, tháng 8 và tháng 11.
         Ngày công bố: Ngày Thứ Sáu đầu tiên của tháng cuối quý (tháng 3, 6, 9, và 12)
         Ngày thực hiện: Ngày Thứ Sáu thứ ba của tháng cuối quý (tháng 3, 6, 9, và 12)
         Ngày có hiệu lực: Ngày Thứ Hai của tuần tiếp theo Ngày thực hiện.
Tiêu chí sàng lọc
         Tiêu chí 1: Free-float.
         Tiêu chí 2: Quy mô.
         Tiêu chí 3: Thanh khoản.
         Tiêu chí 4: Room nước ngoài.
3.2             Trade cùng ETFs
Như đã viết ở phần trên, có 2 hoạt động khá lớn của ETF tác động đến TTCK Việt Nam là Cơ chế cân bằng NAV và Review danh mục. Như vậy, NĐT có thể “bắt bài” như thế nào để có thể hưởng lợi hoặc né được tác động của ETF.
         Khi nắm bắt được tình trạng premium hoặc discount của ETFs, NĐT có thể dự đoán được một phần xu hướng mua bán của NĐT NN trên TTCK Việt Nam. Từ đó dự đoán được cung cần trên thị trường để ra quyết định mua/ bán, hay có thể né hoặc “chung tàu” các mã mà ETFs đang nắm giữ.
         Tương tự trong kỳ review, NĐT sẽ nhìn thấy được có một lượng lớn các lệnh mua bán vào các mã cổ phiếu mà ETFs thêm vào hoặc loại ra khỏi danh mục. NĐT có thể đánh cửa ngược (mua) ở các mã ETFs loại khỏi danh mục…

         Các tiêu chí thêm vào hay loại ra khỏi Danh mục được công bố công khai. Do vậy, đa số được các công ty chứng khoán và một số NĐT (có đủ số liệu) có thể đoán trước được là ETFs sẽ thêm hoặc loại mã nào trong kỳ rreview danh mục. Chính sự công khai này sẽ giúp cho một số Doanh nghiệp tự tạo cho mình các tỷ lệ để thỏa mãn các tiêu chí của ETFs (Bao gồm: Free-float; Quy mô; Thanh khoản; Room nước ngoài). Cuối cùng tới kỳ review, doanh nghiệp (hay mã cổ phiếu) đủ tiêu chuẩn và lọt vào Danh mục của ETFs). Nếu NĐT nắm bắt được ý định này của DN, thì tham gia mua cổ phiếu (để tìm kiếm sự tăng giá) ngay từ giai đoạn đầu tiên của quá trình doanh nghiệp “nâng cấp tiêu chuẩn”.